• Các thành viên chú ý, NHT trở lại vẫn giữ những thông tin cũ, bao gồm username và mật khẩu. Vì vậy mong mọi người sử dụng nick name(hoặc email) và mật khẩu cũ để đăng nhập nhé. Nếu quên mật khẩu hãy vào đây Hướng dẫn lấy lại mật khẩu. Nếu cần yêu cầu trợ giúp, xin liên hệ qua facebook: Le Tuan, Trân trọng!

Tiên Điền - Nghi Xuân làng khoa bảng và văn chương

Hà An

Điều Hành Chung
Staff member
#1
Sách Nghi Xuân địa chí viết về thế đất, 'thế đứng" của làng Tiên Điền có câu:

"Hồng Lĩnh Sơn cao, Song Ngư hải khoát Nhược ngộ minh thời, nhân tài tú phát" (Núi Hồng Lĩnh cao cao, hòn song ngý ngoài biển lộng, gặp buổi có vua hiền, nhân tài đua nhau phát). Đứng ở bến đò, đã thấy cái thế của làng.

Theo gia phả họ Nguyễn và sách Nghệ An ký của Hoàng Giáp Bùi Dương Lịch (1757-1828) thì trước thế kỷ XVI, Tiên Điền là một bãi đất cát bồi của sông Cả (tên cũ của Sông Lam) đầy ao chuôm, mồ mả và um tùm cây cói lác, cư dân thưa thớt sống bên những con hói mùa triều cường nước mặn ngập bờ, đêm xanh lè ánh lân tinh. Giữa thế kỷ XVI, ông tổ họ Nguyễn là Quận công Nguyễn Thuyên đến dựng cơ nghiệp, đất này mang cái tên thật nông nổi: U Điền (Ruộng hoang, rậm). Cháu ông là Nam dương Quận công đã đắp đê ngăn mặn, khơi kênh dẫn nước ngọt trên Ngàn Hống về cải tạo U Điền. Đầu thế kỷ XVII, U Điền đổi tên thành Tân Điền, Phú Điền, rồi Tên Điền. Theo sách Đại Minh quảng dư chí thời thuộc Minh (1414-1417), Tiên Điền gồm 4 thôn: Báu Kệ, Lương Năng, Văn Trường và Võ Phấn. Xa xưa, Tiên Điền được gọi là đất 'Giang Sơn tụ khí" không chỉ theo nghĩa phong thổ địa lý mà xét cả về trầm tích văn hoá. Một thời Tiên Điền là chốn đô hội. Quanh Bàu Phổ Quán, Bàu Tên, Cầu Tiên 'lâu đài tiếp nối, quán hàng cài rãng lược, người ngựa tấp nập, võng lọng rợp trời' (Sách An Tĩnh cổ lục của Giáo sư Lơ- Brơtông). Không biết từ bao giờ Xứ Nghệ có câu phương ngữ Ló (lúa) Xuân Viên, quan Tiên Điền, tiền Hội Thống. Dù đất bạc, dân bần, nhưng quan Tiên Điền, khoa cũng như hoạn, văn cũng như võ, khanh hầu, tể phụ, danh thần dũng tướng nhiều không làng nào sánh nổi. Du khách tới đây nghe đọc tên đền miếu, lăng mộ không tin nổi với diện tích làng 380 héc ta có thể chứa hết: Chuồng voi Đoan Quận công họ Trần, con rể chúa Trịnh, Vườn Hội Quận công, Đền tế tý văn, Đền thờ Hội Quận công, Đền thờ Uy Quận công, Đền thờ Trinh Dũng hầu, Đàn tế Lĩnh Nam công, Đền thờ Tiên Lĩnh hầu, Đền thờ Xuân Nhạc công, Đền thờ Lam Khê hầu, Đền thờ Điền Nhạc hầu, Đền thờ Hà Chân đài, Mộ tổ họ Nguyễn, Mộ Xuân Nhạc quận công, mộ Tán Quận công, Mộ Tiên Lĩnh hầu, Mộ Nguyễn Du...

Thuở nhỏ tôi nghe câu vè Tiên Điền thờ thánh, Tả Ao thờ thần mãi sau này mới hiểu hết nguồn cơn. Xưa ở các làng khác như Vọng Nhi, Đan Phổ có đình thì Tiên Điền mãi năm Minh Mạng mới dựng đình. Thánh đây là đạo Nho, là truyền thống học hành đỗ đạt. Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú viết: 'Khoa giáp nổi trội hơn hẳn, danh thần, hiền phụ đứng hàng đầu trong phủ Đức Quang" là viết về Tiên Điền.

Tiên Điền thời Lê - Nguyễn có 6 người đỗ đại khoa, 31 người đỗ Hương cống, Cử nhân, 11 người tú tài, sinh đồ, 3 người được bạt cống, 3 người được cảnh tiến, nói như giờ là được đề bạt thẳng không qua thi cử. Nhiều người là Võ tướng, Quận công, Phò mã, Công hầu thuộc những dòng họ lớn: Nguyễn, Trần, Hoàng, Lê, Hà... Ở đây, tôi xin lược chép vài nét chính về 6 vị đại khoa họ Nguyễn là thân phụ, chú, bác, anh em Đại thi hào Nguyễn Du.

Nguyễn Nghiễm (thân phụ Nguyễn Duy) tự Hy Tư, tôn huý Thiều, hiệu Nghi Hiên, bút hiệu Hồng Ngư cư sĩ. Ông sinh giờ Canh Tuất, ngày Thìn 14 tháng giêng nhuần năm Mậu Tý niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ tý, 16 tuổi đỗ thi hương, 24 tuổi đỗ Hoàng Giáp, 54 tuổi giữ chức Nhập thị Tham tụng, rồi thăng Đại tư đồ Xuân Quận công. Ngày 17 tháng 11 năm Ất Mùi ông mất tại làng. Mất rồi vẫn được gia phong Thần Thượng đẳng với mỹ tự 'Kinh luân, khang tế, đức vọng tài trí, anh đặc, cảnh lãng".

Nguyễn Khản, tự Hy Trực, biệt hiệu Lân Sơn cư sĩ, sinh giờ Tỵ ngày Mậu Thìn 13 tháng 3 năm Giáp Dần niên hiệu Long Đức thứ ba, 20 tuổi đỗ thi hương, 27 tuổi đỗ Thi đình. Giữ các chức Nhập thị bồi tụng, Tả Thị lang bộ lại, Kiều Nhạc hầu. Về sau đổi sang chức võ Hồng Lĩnh hầu, Thượng thư Bộ lại kiêm trấn thủ Sơn Tây. Chúa Trịnh từng viết tặng ông 4 chữ 'Nhị giáp phụ tử". Ông nổi tiếng thơ Quốc âm và mê say âm nhạc. Người Xứ Nghệ gọi ông là 'Phong lưu đại thần'.

Nguyễn Huệ, tự Hy Hoà, hiệu Giới Hiên. Sinh năm Ất Dậu Vĩnh Thịnh. 25 tuổi đỗ Thi hương, làm Tri huyện Nga Sơn, 29 tuổi trúng Đệ Tam giáp. Năm Vĩnh Hữu thứ 4, truy tặng Trung Trinh đại phu, Hàn lâm viện thừa chỉ, Tiên Lĩnh hầu. Năm Cảnh Hưng thứ 11, Trịnh Ân Vương bao phong Võ Đại vương Thượng đẳng Phúc thần.

Nguyễn Tán, tự Soán Phủ, hiệu Cẩm Đình, 21 tuổi đỗ Thi hương, 29 tuổi trúng Đệ tam giáp, Đệ thất danh, được bổ làm tri phủ Khánh Hoà, làm Phân khảo trường Nam Định, rồi làm Đông tri phủ Vĩnh Tường.

Nguyễn Mai, tên hiệu Hữu Tuyết tử, sinh năm Mậu Dần đời Tự Đức. 23 tuổi đỗ thứ 3 thi hương, 27 tuổi trúng Đệ tam giáp đồng tiến sĩ.

... Làng người đông, ít đất nhưng vẫn dành một khoản ruộng cho sự học, gọi là học điền chia cho những người đỗ đạt. Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài mỗi người được 1 mẫu 8 sào. Ngoài ra còn 'ruộng đầu xã' dành cho người đỗ đạt cao nhất của làng. Cái vị trí trang trọng giữa đình làng ở Tiên Điền không phải dành cho bậc cao tuổi nhất mà dành cho người đỗ đạt có công dạy học cho thế hệ trẻ. Lại có ruộng lễ hội: ruộng khai hạ, ruộng tế đinh, tế điền, ruộng xuân thu kỳ hạp... Tiên Điền là làng có nhiều lễ hội nổi tiếng khắp vùng: Lễ lên lão, lễ khai hạ, lễ xuân tế, lễ cầu khoa, lễ cúng cơm mới, lễ gieo mạ. Tiên Điền cũng là làng mà các loại hình văn học dân gian rất đa dạng và phong phú: Thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện kể, ca dao, tục ngữ, hát ví phường nón, hát dặm, tuồng chèo, hát ả đào, hò, vè. Có lẽ truyền thống văn hoá dân gian này đã nuôi dưỡng tâm hồn các tác gia Tiên Điền, là mạch nguồn giúp cho sự phát triển văn học Tiên Điền. Thời nào đó đã có câu: 'Xính thay một xứ đôi tiên; Tiên Lý phát võ, Tiên Điền phát văn".

Ở Hà Tĩnh, có nhiều dòng văn nổi tiếng góp một phần to lớn cho văn học dân tộc.
- Dòng văn họ Phan Huy với Phan Huy Ích, Phan Huy Vịnh;
- Dòng họ Nguyễn Huy với Nguyễn Huy Hổ, Nguyễn Huy Oánh, Nguyễn Huy Tự,
- Ðặc biệt là dòng họ Nguyễn Tiên Điền là trụ cột của 'Văn phái Hồng Sơn' hình thành ở Xứ Nghệ vào thế kỷ XVII-XVIII. Thư tịch cổ còn lại quá ít, những trước tác của những tác giả Tiên Điền tôi thống kê dưới đây chắc hẳn còn thiếu sót nhiều, nhưng cũng đủ cho chúng ta khâm phục kính trọng.
Đó là:
- Nam dương tập yếu kinh nguyên của Nguyễn Nhiệm; Đại hiệu chân kinh, Từ âu chân thuyền, Dịch kinh quyết nghị của Nguyễn Quỳnh;
- Xuân trung liên vịnh, Xuân Đình tạp vinh, Việt sử bị lãm, Lạng Sơn đoàn thành đồ chí, Cổ lễ nhạc chương thi văn tập, Khổng Tử mộng Chu Công của Nguyễn Nghiễm;
- Quế Hiên thi tập, Hoa trình tiền hậu tập của Nguyễn Nễ;
-Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), Văn chiêu hồn, Văn tế Trường Lưu nhị nữ, Thác lời trai phường nón Tiên Điền của Nguyễn Du;
- Châu trần di cảo của Nguyễn Nghi;
- Đông phủ thi tập, Huyền cơ đạo thuật bí thư, Nhuận bút Hoa Tiên của Nguyễn Thiện;
- Quan Đông hải thi tập, Minh Quyên thi tập, Thiên hạ nhân vật thư của Nguyễn Hành;
- Tiểu học toàn thư của Trần Lục Nam;
- Thái hiền dư tập, Tập phú, Tập tứ học của Trần Kim Thành....

(Sưu tập trên net)
 

Hà An

Điều Hành Chung
Staff member
#2
Thời hiện đại, Tiên Điền là ngọn cờ đầu của công tác giáo dục. 3000 dân mà có tới hơn 1000 học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Người Tiên Điền là Tiến sĩ, kỹ sư, bác sĩ công tác trong và ngoài nước khá nhiều, cho đến nay chưa có con số thống kê nào cụ thể.

Trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, Tiên Điền là làng có đóng góp to lớn. Từ xa xưa, Tiên Điền từng được Nhà Lê ban tên 'Xã Trung Nghĩa' vì đã có công bảo vệ kinh thành Thãng Long. Nãm 1419, dân Tiên Điền tham gia cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh của Đặng Dung, Nguyễn Biểu dưới triều Trần Trùng Quang. Khi Tây Sơn ra Bắc, dân Tiên Điền không ít người làm việc với Tân triều đóng góp vào cuộc kháng chiến chống quân Thanh. Sử còn ghi tên Nguyễn Nề, Nguyễn Thiện, Nguyễn Công, Hoàng Kim Thành, Hoàng Kim Hoa... Cuối thế kỷ XIX khi vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vương dân Tiên Điền đã theo nhà nho yêu nước Hà Văn Mỹ, võ tướng của Phan Đình Phùng, đánh Pháp ở vùng ven sông Lam. Trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, làng Tiên Điền là một cơ sở của Đảng. Dân Tiên Điền lập hội Tập Phúc, mở lớp học chữ quốc ngữ, biểu tình đấu tranh chống Pháp và phong kiến Nam triều. Cách mạng Tháng Tám 1945, thanh niên Tiên Điền là lực lượng xung kích cướp chính quyền ở huyện. Tên Điền có 94 gia đình liệt sĩ, 54 thương binh, 2 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng. Chẳng có chi lạ là, trong nhiều tấm bia đá của làng chỉ còn lại non nửa, chữ bị mưa gió xói mòn, nhưng bốn chữ ở bia Đàn tế Lĩnh Nam hầu: 'Hồng nguyên Tuấn lưu” (Nguồn lớn, dòng mạnh) vẫn rõ nét, sắc cạnh.

Trưa ấy chúng tôi đến nhà ông Nguyễn Mậu, tộc trưởng họ Nguyễn Tiên Điền. Ông Mậu cho con gọi thầy giáo Nguyễn Minh, cháu trực hệ dòng họ đến tiếp chúng tôi. Câu chuyện bắt đầu từ khu lưu niệm và mộ cụ Nguyễn Du. Anh Minh nói:

- Cụm di tích và khu lưu niệm Nguyễn Du bao gồm khu lưu niệm Nguyễn Du, đền thờ Nguyễn Huệ (Anh cả của Nguyễn Nghiễm, bác ruột Nguyễn Du), mộ và đền thờ Nguyễn Nghiễm (thân phụ Nguyễn Du), nhà thờ Nguyễn Trọng (chú ruột Nguyễn Du) và khu mộ Nguyễn Du. Vừa rồi, Nhà nước đầu tý hơn 5 tỷ đồng để đúc tượng nâng cấp khu lưu niệm, làm lại khu mộ Đại thi hào dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới, họ Nguyễn chúng tôi mừng lắm. Nay nhìn thấy đẹp hơn, sang hơn trước nhiều lắm. Cần thế và cần hơn thế. Các anh ở bảo tàng thống kê, một năm có gần 400 đoàn khách trong nước với gần 15000 lượt người, 18 đoàn khách nước ngoài với 180 lượt người và hàng vạn khách thăm tự do. Tiếc là, không ai hỏi người họ Nguyễn chúng tôi một lời. Đúc tượng cụ Nguyễn Du khó lắm. Cụ không có ảnh để lại phải từ cốt cách dòng họ, cốt cách làng Tiên Điền, từ Truyện Kiều, thơ chữ Hán của cụ mà tưởng tượng ra. 'Máu thoảng hơn nước lạnh đặc', các cụ cao tuổi dòng họ Nguyễn mà góp ý thì chắc 'giống' hơn. Đấy là tôi chưa nói cái ta thường gọi là 'Tâm thức'. Rồi mộ cụ nữa. Lý luận về trước miếu, sau bia đâu chúng tôi không biết nhưng 600 nãm từ khi có làng đến nay, Tiên Điền có vài chục lăng mộ rồi. Không ai dựng cái nhà bia che hết mộ đi như thế...


Đức Ban (Báo Văn nghệ)