• Các thành viên chú ý, NHT trở lại vẫn giữ những thông tin cũ, bao gồm username và mật khẩu. Vì vậy mong mọi người sử dụng nick name(hoặc email) và mật khẩu cũ để đăng nhập nhé. Nếu quên mật khẩu hãy vào đây Hướng dẫn lấy lại mật khẩu. Nếu cần yêu cầu trợ giúp, xin liên hệ qua facebook: Le Tuan, Trân trọng!

Thời sự - Chính trị (tin trong và ngoài nước)

#1
Vịnh Hạ Long vào chung kết bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới
(Dân trí) - Tổ chức New7Wonders hôm qua đã chính thức công bố danh sách 28 địa danh lọt vào vòng chung kết cuộc bầu chọn 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới, trong đó có Vịnh Hạ Long của Việt Nam.


Vịnh Hạ Long.


Rừng Amazon, Biển Chết, đỉnh Kilimanjaro ở châu Phi, quần đảo Galapagos của Ecuador cũng là những cái tên có mặt trong top 28, Bernard Weber, người sáng lập tổ chức New7Wonders cho biết.

Theo bảng xếp hạng của New7Wonders, vịnh Hạ Long xếp ở vị trí thứ 12 trong 28 kỳ quan. Rừng Amazon chảy qua 9 quốc gia ở khu vực Nam Mỹ dẫn đầu bảng bầu chọn.

Một uỷ ban gồm nhiều chuyên gia - do ông Federico Mayor, cựu Chủ tịch Tổ chức Văn hoá Khoa học Giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) đứng đầu - đã chọn ra 28 đại diện xuất sắc nhất từ 77 địa danh giành được số phiếu bầu cao nhất trong vòng bầu chọn trước đó, dựa vào các yếu tố như cân bằng địa lý, tính đa dạng và tầm quan trọng đối với cuộc sống con người.
Ông Weber cho hay, các nước ở châu Á có số người tham gia bầu chọn rất cao bao gồm Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh và Việt Nam. Số người bầu chọn từ Mỹ, châu Mỹ Latinh cũng tương đối cao. Đặc biệt tỷ lệ người tham gia bầu chọn tại châu Phi, hầu hết là qua điện thoại di động, cao đột biến trong vài tuần trở lại đây.

Dự kiến, 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới sẽ được công bố vào năm 2011. Hơn 1 tỷ người trên khắp hành tinh được dự báo sẽ tham gia cuộc bầu chọn qua internet hoặc điện thoại trong vòng 3 này.

Năm 2007, khoảng 100 triệu người đã tham gia bầu chọn để chọn ra 7 kỳ quan thế giới. Những ứng viên thắng cuộc gồm Đấu trường La Mã - Italia; Vạn Lý Trường Thành - Trung Quốc; đền Taj Mahal - Ấn Độ; khu di tích Petra - Jordan; tượng Chúa Giêsu - Brazil; pháo đài Machu Picchu - Peru; Kim tự tháp tại Chichen Itza - Mexico.

Việc bầu chọn các kỳ quan thế giới luôn là chủ đề lôi cuốn suốt nhiều thập kỷ qua. UNESCO vẫn cập nhập danh sách các Di sản thế giới, hiện đã lên tới con số 890.

Chiến dịch New7Wonders nhằm mục đích thúc đẩy sự đa dạng văn hoá bằng việc hỗ trợ, bảo tồn và phục hồi các di tích cổ và các kỳ quan thiên nhiên. Nguồn thu của New7Wonders chủ yếu dựa vào các khoản tài trợ, bán quảng cáo và quyền phát sóng.
 

Tôi_HàTĩnh

Đang ở trên non
#2
Chiêm tinh Nga đoán “số" và " vận” của Barack Obama

Chiêm tinh gia người Nga Globa còn đưa ra bản đồ sao chi tiết của Tổng thống Mỹ Barack Obama, căn cứ vào địa điểm và giờ sinh của đương kim ông chủ Nhà trắng – 19h24 tại thành phố Honolulu trên đảo Hawaii.



Bản đồ sao của Tổng thống Barack Obama

Chòm sao chiếu mệnh của Barack Obama là chòm Sư tử (ông sinh vào ngày 04/8/1961). Thông thường, những người thuộc chòm sao này có khuynh hướng thiên về các hoạt động sân khấu, điện ảnh, thích hợp với những hoạt động nổi bật và để lại dấu ấn. Barack Obama bước lên đỉnh cao quyền lực với tư cách là vị Tổng thống da mầu, gốc Phi đầu tiên. Bản lý lịch cá nhân đặc biệt này sẽ làm cho ông còn được nhắc đến trong sử Mỹ.

Trong số 44 đời Tổng thống Mỹ thì chỉ có duy nhất 4 người sinh vào chòm sao Sư tử. Điều đáng ngạc nhiên là cả 4 người đều để lại những ấn tượng khó quên: đầu tiên, họ đều là các ứng cử viên Tổng thống được phần đông cử tri yêu thích và có tỷ lệ ủng hộ cách biệt so với đối thủ. Tuy nhiên, khi lên nắm quyền thường “về hưu” không mấy vinh quang hoặc “dính” xì căng đan. Đương kim Tổng thống Barack Obama là vị Tổng thống thứ tư thuộc nhóm này. Ông cũng chiến thắng đối thủ John McCain với tỷ lệ cách biệt và người dân Mỹ hiện đang đặt rất nhiều hi vọng vào ông.

Phân tích chi tiết hơn lá tử vi của Barack Obama có thể thấy ở ông có sự tập trung cao độ hành tinh thuộc chòm Sư tử, vì thế bản chất của ông bộc lộ khá rõ. Mặt trời trong tử vi của Barack Obama nằm ở vị trí của ngôi thứ 6, mà ngôi thứ 6 là ngôi lệ thuộc. Vì vậy, có nhiều khả năng tân Tổng thống Mỹ sẽ rơi vào tình thế lệ thuộc hoặc bị chi phối rất lớn bởi ngoại cảnh. Ngoại cảnh ở đây có thể được hình thành từ phía các chiến hữu thân cận hoặc từ chính phu nhân của đương kim Tổng thống Mỹ.

Có thể nói rằng giống như những người sinh ra vào cung sao Bảo Bình đang mọc, Barack Obama có thiên hướng với các cuộc cải cách, với những hành động bất ngờ. Số phận của Barack Obama gắn rất chặt với nước Mỹ. Nước Mỹ có truyền thống gắn với chòm Song Tử. Trong khi đó, trong tử vi của Barack Obama, mặt trăng cũng nằm ở vị trí của chòm sao này. Mà mặt trăng là biểu tượng của tinh thần dân tộc, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Điều đó giải thích tại sao Barack Obama không chỉ được người dân gốc Phi mà cả các dân tộc khác của châu Mỹ yêu thích. Thêm nữa, cái được gọi là “Bạch Nguyệt” trong thiên văn ở lá số của Barack Obama là biểu tượng của thần hộ mệnh và khởi đầu suôn sẻ nói lên rằng Barack Obama sẽ được tiếp nhận như một nhà lãnh đạo tích cực.

Vào khoảng thế kỷ 15-16, nhà thiên văn nổi tiếng người Slave Vasili Nemchin từng tiên đoán rằng tại đất nước rộng lớn nằm trên bờ Tây Đại Tây Dương (nước Mỹ ngày nay), mỗi nhà cầm quyền sẽ trị vì 4 năm. Trong đó, người thứ 44 sẽ là người có số phận bất hạnh khi trị vì được ½ thời gian. Người cầm quyền thứ 44 sẽ là người da đen, ban đầu rất được yêu thích nhưng sau đó vô cùng bị căm ghét.

Lời tiên đoán này phải cần có thời gian để kiểm chứng. Tuy nhiên, có thể thấy rõ việc Barack Obama lên giữ chức Tổng thống Mỹ vào đúng thời điểm cuộc đại suy thoái nền kinh tế thế giới bắt đầu là một điều bất lợi. Tất nhiên, Barack Obama cũng đã và đang làm nhiều việc tích cực. Chính sách của ông tập trung vào giải quyết nhiều vấn đề trong nước hơn là đối ngoại.

Barack Obama sẽ gặt hái được nhiều thành công trong năm đầu cầm quyền (2009) vì đối với những người sinh năm Sửu theo lịch phương Đông thì đây là năm thuận lợi nhất. Cũng trong năm này, sao Mộc trong cung Bảo Bình của Barack Obama quay về đúng vị trí xuất phát. Mà sao Mộc là biểu tượng của vua, vì thế mọi sáng kiến của Barack Obama trong giai đoạn 2009-2010 sẽ mang lại những thành quả to lớn. Tuy nhiên, đến đầu 2010, khi sao Mộc chuyển đến vị trí của chòm Song Ngư thì lại lại bắt đầu thời điểm vô cùng khó khăn.



Nhà tiên tri cho rằng 2012 sẽ là năm bất hạnh đối với Barack Obama, giống như đối với cố Tổng thống John Kenedy năm 1963.

Giới thân cận với Tổng thống Barack Obama sẽ có thể không có được điều mong muốn nhất vì lợi ích của họ sẽ bị san sẻ không chỉ với những lợi ích cá nhân của Barack Obama mà còn với chính sách của Tổng thống Mỹ. Một vài nhân vật trong giới thân cận của ông có thể trở thành những kẻ làm phản trong khoảng 2010-2011. Thậm chí, không loại trừ khả năng trong giai đoạn này, chính quyền của ông Barack Obama sẽ dính hàng loạt vụ xì cang đan. Những người từng tích cực ủng hộ ông có thể sẽ quay đầu trở thành những người chống đối. Vì thế, có thể vào cuối 2012, Barack Obama sẽ bị rơi vào thế cô lập.

Nhà tiên tri "phán" rằng 2012 sẽ là năm cuộc khủng hoảng tài chính đạt đỉnh. Và đây sẽ là một trong những thời kỳ khó khăn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Thật trùng hợp là trong giai đoạn này, bản đồ sao của Barack Obama có trình tự sắp xếp ở vị trí bất lợi nhất trong suốt cuộc đời Barack Obama, và mùa thu 2012 có thể trở thành... bất hạnh. 2012 có thể trở thành năm bi kịch đối với Barack Obama, giống như John Kenedy năm 1963. Năm 1963, John Kenedy là nạn nhân của một vụ ám sát, và Barack Obama cũng có thể gặp một kịch bản tương tự. Thậm chí, nếu Barack Obama may mắn thoát được vụ mưu sát thì cũng kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống vào năm 2013 với kết cục buồn thảm, không mấy vinh quang.

Nếu Barack Obama may mắn thoát nạn thì sau khi mãn nhiệm, ông vẫn có thể tỏa sáng ở một cương vị khác, chẳng hạn như một nhà ngoại giao tài năng. Lá tử vi của Barack Obama rất giống với của cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, người sau khi rời chức Ngoại trưởng vẫn là nhân vật chính trị có ảnh hưởng trong nền ngoại giao Mỹ. Barack Obama cũng có thể trở thành một nhân vật tương tự như vậy. Thậm chí, ông còn có thể được trao giải Nobel Hòa bình và xuất hiện như một nhà chính trị kiệt xuất tại quê hương Kenya hoặc tại Liên minh châu Phi (châu Phi có thể sẽ liên kết thành một liên minh thống nhất vào khoảng năm 2020).

Globa cho rằng nhiệm kỳ cầm quyền của Barack Obama sẽ đi vào lịch sử như một trong những giai đoạn bất thường, thú vị và nhiều xì căng đan nhất lịch sử Mỹ.

Điều này, Globa "nhìn thấy" trong bản đồ sao của Barack Obama ngay từ thời điểm ông tuyên thệ nhậm chức. Tại Mỹ có truyền thống tuyên thệ nhậm chức Tổng thống vào ngày 20 tháng 1. Vào ngày này, mặt trời chuyển từ vị trí chòm sao Ma Kết về vị trí chòm Bảo Bình. Sự dịch chuyển này khiến mỗi đời Tổng thống Mỹ phải gánh một trách nhiệm đặc biệt nào đó, hoặc buộc phải thay đổi chính sách. 20 tháng 1 là ngày các vì sao trên trời có vị trí xấu.

Trong ngày này, có hai hành tinh nằm ở vị trí được gọi là “góc phá”. Thứ nhất là sao Hỏa, biểu tượng của chiến tranh, hủy diệt. Vì thế, Barack Obama sẽ gặp phải những kẻ thù không thể dung nạp. Thứ hai là mặt trăng lặn, biểu tượng của quá khứ và bóng đêm. Điều này nói lên rằng quá khứ của Barack Obama sẽ còn được nhắc đến nhiều.

Tiếp theo là vị trí không đắc địa của Thiên Vương Tinh, biểu tượng của âm lực, sức mạnh hủy diệt của khủng hoảng. Kết hợp những điều này lại với nhau có thể suy ra Barack Obama sẽ gặp phải sự bất đồng lớn với các thế lực chống đối.

Tuy nhiên, Barack Obama cũng có một niềm vui là vị trí Mộc Tinh – hành tinh Vua lại nằm ở vị trí cao cực điểm so với mặt trăng. Điều này nói lên sự quyết đoán, độc lập về ý chí của ông đối với những người không đồng chính kiến trong bộ máy hành chính. Tuy nhiên, đôi khi Barack Obama sẽ phải áp dụng các biện pháp cực đoan để vựơt qua giai đoạn khó khăn, khoảng 2 năm sau khi lên nắm quyền.


Theo Dni
 
#3
Thư gửi quốc hội của gs ngô bảo châu

THƯ GỬI QUỐC HỘI CỦA GS NGÔ BẢO CHÂU

Thư viết từ Princeton, ngày 27 tháng 5 năm 2009

Kính gửi Quí vị Đại biểu Quốc hội khóa 12:

Đã có khá nhiều phản biện thuyết phục về kinh tế, ảnh hưởng môi trường và an ninh của dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên, tôi không có gì bổ sung thêm. Tôi mạn phép cầm bút viết cho Quí vị với tư cách là một công dân suy nghĩ và trăn trở với vận mệnh của đất nước. Phần lớn các Quí vị cũng như tôi không phải chuyên gia trong các vấn đề kể trên, nhưng với những tư liệu được cung cấp, chúng ta có thể chắt lọc một số sự thật hiển nhiên, gọi chúng bằng tên của chúng, sắp xếp chúng một cách có logic để mỗi người có thể có quan điểm riêng của mình. Đó là phương pháp làm việc khoa học mà qua trải nghiệm hàng ngày trong công việc của một nhà toán học, tôi biết nó không dễ dàng. Nhưng đó chính là trách nhiệm mà Nhân dân đã phó thác lên vai của Quí vị.

Quan hệ Việt Nam-Trung Quốc dài và sâu như chính lịch sử Việt Nam. Người Việt Nam có phông văn hóa, cách suy nghĩ và ứng xử nhiều phần giống người Trung Quốc, không ít người Việt Nam có tổ tiên đến từ Trung Quốc. Quan hệ với Trung Quốc vừa là một phần hữu cơ vừa là một nguy cơ cho sự tồn vong của bản sắc Việt Nam. Đây là một dữ kiện lịch sử mà ta không nên mất thời gian bàn xem nó tốt hay xấu, đáng vui hay đáng buồn, mà dành thời gian để suy nghĩ đến hệ quả của nó. Suy nghĩ nghiêm túc có hệ thống tránh cho ta việc trong thời bình lại ứng xử tình thế như trong thời chiến: lúc thì “môi hở răng lạnh”, lúc lại xua đuổi Hoa kiều mà nhiều gia đình đã gắn bó với mảnh đất này qua nhiều thế hệ.

Cái tôi muốn đề cập đến trong bức thư này không phải là quan hệ giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc mà là chính sách “thực dân mới” của chính quyền Trung Quốc. Cũng như các nước Anh, Pháp trong thế kỷ mười chín, Mỹ trong thế kỷ hai mươi, công nghiệp Trung Quốc trong thế kỷ hai mốt phát triển như vũ bão. Hệ quả hiển nhiên là Trung Quốc hôm nay, cũng như các nước kể trên hôm qua, đói nhiên liệu, nguyên liệu và thị trường tiêu thụ các sản phẩm của mình. Như trong sách lịch sử cho học sinh phổ thông, ta gọi các nước Anh, Pháp cho quân đi chiếm thuộc địa là chính sách thực dân cũ, Mỹ trong thế kỷ hai mươi và Trung Quốc hôm nay dùng uy thế chính trị và kinh tế để dành nhiên liệu nguyên liệu và thị trường là chính sách “thực dân mới”. Đây cũng là một dữ kiện lịch sử mà ta không nên mất thời gian bàn xem thực dân cũ, mới là tốt hay xấu, gọi tên như thế có quá đáng hay không, mà dành thời gian để suy nghĩ đến hệ quả của nó. Hệ quả cho các nước bị thực dân như ở châu Phi thì ta biết : tài nguyên khai thác bừa bãi, môi trường tàn phá, kinh tế phát triển lệch lạc do quá phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên kéo theo tệ tham nhũng và bất bình đẳng xã hội nghiêm trọng.

Trung Quốc thực hiện chính sách “thực dân mới” một cách có hệ thống ở châu Phi, châu Mỹ la tinh và mọi nơi có nhiên liệu, khoáng sản trong đó có Việt Nam. Trong trường hợp của Việt Nam, ảnh hưởng quá mức của Trung Quốc có thể kéo thêm hệ quả nguy hiểm sau đây : quan hệ hữu cơ vốn có của văn hóa Trung Quốc với văn hóa Việt Nam trở thành đô hộ văn hóa. Đất nước, con người, văn hóa Trung Quốc có nhiều thứ để ta cảm phục và học tập. Nhưng nếu ta rập khuôn theo mô hình của họ, đi theo con đường họ đã đi, làm theo cái họ nói tức là cái họ muốn, thì ta chỉ nhận phần thiệt thòi, còn bản sắc ta thì tồn vong được bao lâu. Vấn đề độc lập văn hóa, giữ gìn bản sắc vô cùng hệ trọng, xin Quí vị lưu ý...

Xin quay lại vấn đề khai thác bô xít ở Tây Nguyên. Đọc tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc năm 2001 khi Tổng bí thư Nông Đức Mạnh sang thăm Trung Quốc và năm 2006 khi Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào sang thăm Việt Nam, ta nhận thấy một điều hiển nhiên là Trung Quốc rất quan tâm đến tài nguyên này và muốn ta khai thác bằng được. Trong những trường hợp như vậy, chỉ suy diễn ta cũng thấy việc này có lợi cho họ nhiều hơn cho ta.

Tuy nhiên, suy diễn thôi không đủ. Nghiên cứu kỹ Báo cáo của Chính phủ và các phản biện đặc biệt quan tâm đến những con số, cá nhân tôi có ý kiến sau đây :

1) Dữ kiện chính của vấn đề là Việt Nam có nguồn tài nguyên bô-xít lớn thứ ba thế giới chủ yếu tập trung ở Tây Nguyên. Dữ kiện này kéo theo sự quan tâm của các nước công nghiệp đói bô-xít chứ không kéo theo ta phải khai thác bô-xít. Về phía ta, dữ kiện trên kéo theo ta có thể lựa chọn có khai thác bô-xít hay không và nếu có, ta có thể lựa chọn thời điểm và qui mô thích hợp.

2) Báo cáo của Chính phủ cho biết qui hoạch bô-xít được lập trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng. Tại thời điểm này, kinh tế toàn cầu đi vào khủng hoảng, có nguy cơ kéo dài.

Dữ kiện chính về kinh tế vĩ mô không còn đúng nữa, không rõ hiệu quả kinh tế đã được tính toán lại như thế nào. Trong báo cáo của Chính phủ, phần chắc chắn là phần lỗ những năm đầu, vì là lỗ kế hoạch. Ngay cả tính toán giả định ta cũng chưa rõ là sẽ lỗ kế hoạch bao nhiêu năm. Phần lãi sau đó phụ thuộc vào nhiều giả thiết : giá nhôm tăng trở lại, mưa đủ để có nước rửa quặng, nhà nước đầu tư thêm vào đường sắt để vận chuyển quặng. Nếu cứ cho mỗi giả thiết sác xuất 50-50 như cách diễn đạt của lãnh đạo Than khoáng sản, sác xuất có lãi sau một số năm lỗ kế hoạch, nhiều nhất là một phần tám, chưa tính đến chi phí cho môi trường.

3) Diện tích sử dụng cho khai thác bô-xít dự kiến là 8,6% tỉnh Đắc Nông là một con số khổng lồ nếu ta nghĩ đó là 8,6m2 trên tổng diện tích 100m2 nhà của ta.

4) Báo cáo cho biết khai thác bô-xít không thể tránh khỏi ảnh hưởng nhất định đến môi trường và có nêu một số giải pháp công nghệ khắc phục. Trong các phản biện có nêu khó khăn đặc thù của ta là khai thác bô-xít ở đầu nguồn một số sông lớn như sông Đồng Nai, chưa có tiền lệ trên thế giới. Cá nhân tôi băn khoăn nhất chỗ thiếu hoàn toàn dự toán chi phí cho việc bảo vệ môi trường. Ngay trong nhưng trường hợp đơn giản hơn như Vedan, công nghệ thì đã có, nhưng vi phạm môi trường thì vẫn đỡ được 30% chi phí. Như vậy phần ảnh hưởng đến môi trường là phần chắc, phần bảo vệ môi trường còn phụ thuộc vào nhiều giả thiết, có cái phụ thuộc vào ta (chọn công nghệ), có cái không phụ thuộc vào ta (thời tiết, địa thế), có cái ta chưa tính toán đến (chi phí), vì vậy rất đáng lo.

5) Báo cáo cho biết dự án có ảnh hưởng tốt cho xã hội, cụ thể tạo ra hàng ngàn công ăn việc làm cho nhân dân địa phương. Nếu so sánh với mức đầu tư hàng tỉ đô-la Mỹ, thì có nhiều cách hay hơn, an toàn hơn, hiệu quả kinh tế nhãn tiền hơn, để tạo vài ngàn việc làm. Lưu ý con số công ăn việc làm trong báo cáo tương đương với con số hộ dân bị di chuyển. Còn viễn cảnh xây dựng trung tâm dịch vụ, khách sạn, du lịch và giải trí xung quanh hồ chứa bùn đỏ, theo tôi, ít có sức thuyết phục.

Xin nhắc lại, cũng như phần đông Quí vị, tôi không phải chuyên gia ngành khai thác khoáng sản, nhưng qua nghiên cứu kỹ Báo cáo của Chính phủ và các phản biện của nó, tôi nhận thấy trong Quy hoạch chung khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, phần có hại thì cầm chắc, phần có lợi thì mong manh. Bối cảnh kinh tế thế giới rất không thuận lợi cho khai thác nguyên liệu thô, vậy cái gì thúc đẩy ta triển khai khai thác ào ạt vào thời điểm này.

Khác với các nước Châu Phi thế kỷ mười chín, đất nước chúng ta là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Quí vị, phần nhiều ở tuổi cha, tuổi chú của tôi, biết rõ hơn tôi : độc lập chủ quyền của ta không phải tự nhiên mà có. Nước ta có một Quốc hội do nhân dân bầu ra, một Chính phủ do Quốc hội chỉ định, một Quân đội phục tùng Chính phủ. Đó là một thành quả cũng không phải tự nhiên mà có.

Tôi kính mong Quí vị bỏ thời gian, nghiên cứu tường tận Báo cáo dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên, các phản biện khoa học của nó, lắng nghe ý kiến cử tri và suy nghĩ đến sự tồn vong của đất nước, để rồi xây dựng quan điểm riêng của Quí vị, trình bày nó rõ ràng trong nghị sự của Quốc hội và chịu trách nhiệm về nó trước các cử tri. Tôi rất biết đây là việc khó, nhưng dù Quí vị muốn hay không muốn, nhân dân đã đặt niềm tin lên vai của Quí vị.

GS. TSKH Ngô Bảo Châu

Giáo sư toán học Đại học Paris 11, Pháp,

Thành viên của Institute for Advanced Study, Princeton, Mỹ.

Địa chỉ hiện tại:

School of Mathematics

Institute for Advanced Study

Einstein Drive

Princeton NJ 08540 U.S.A.
 

Bebycoi

Bebycoi!
#4
Tăng mức cho vay đối với học sinh, sinh viên

Tin vui cho những hs, sv vay vốn nì!
Theo đề nghị của Bộ Tài chính tại văn bản số 11518/BTC-TCNH ngày 17/8/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1344/QĐ-TTg ngày 26/8/2009, điều chỉnh mức vốn cho vay tối đa quy định tại khoản 1, Điều 5 Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27/9/2007 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với học sinh, sinh viên từ 800 ngàn đồng/tháng/học sinh, sinh viên lên 860.000 đồng/tháng/học sinh, sinh viên.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký:JFBQ00206070426A:
 

Bebycoi

Bebycoi!
#5
Quy định về quân hiệu, cấp hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam

Các bạn muốn phân biệt giữa các lực lượng QDND VN ư? Bạn hãy read thông tin dưới đây hi!:yociexp99:
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 109/2009/QĐ-TTg ngày 26/8/2009 quy định quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu và lễ phục của Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo đó, quân hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam hình tròn, ở giữa có ngôi sao nổi màu vàng, xung quanh có hai bông lúa màu vàng đặt trên nền đỏ tươi; phía dưới hai bông lúa có hình nửa bánh xe răng màu vàng, vành ngoài quân hiệu màu vàng; riêng quân hiệu của lực lượng cảnh sát biển Việt Nam có phần nền hai bông lúa màu xanh dương. Cấp hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam mang trên vai áo, cấu tạo cơ bản của cấp hiệu gồm: nền, đường viền, cúc cấp hiệu, sao và gạch (đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp) và vạch (đối với hạ sĩ quan, binh sĩ). Phù hiệu của Quân đội nhân dân Việt Nam mang trên ve cổ áo, gồm nền phù hiệu và hình phù hiệu; nền phù hiệu lục quân màu đỏ tươi, phòng không - không quân màu xanh hòa bình, hải quân màu tím than, bộ đội biên phòng màu xanh lá cây, cảnh sát biển màu xanh dương.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/10/2009.
 

TuanNS

>invisible
Staff member
#6
Tưởng tăng đc nhiều, hóa ra được có sáu chục 1 tháng, rứa là 1 kỳ được thêm có 300k....
Haizzzz
 
#7
tăng được 6 chục một tháng cụng thêm dc mấy gói mì tôm rùi ;)) tình hình ni có lẹ sống đuợc thêm ít ngày :))
 

0985741986

_*_Gia Phố Anh Hùng_*_
#8
Trước mộ Thành Cát Tư Hãn

Sau cuộc tranh luận với những người bạn Trung Quốc về câu hỏi “Lăng mộ Thành Cát Tư Hãn nằm ở đâu, Trung Quốc hay Mông Cổ?” bất phân thắng bại, chúng tôi làm cuộc du hành đến thành phố Bao Đầu - khu tự trị Nội Mông của Trung Quốc - nằm cách biên giới Mông Cổ và CHLB Nga hơn 200 km, nơi được xem là chốn thờ phụng “linh hồn” của Thành Cát Tư Hãn.

“Bí mật của những bí mật”


Người ta không biết đích thực năm sinh của Thiết Mộc Chân - Thành Cát Tư Hãn, chỉ biết con người này mất ngày 18 tháng 8 năm 1227. Tên tuổi Thành Cát Tư Hãn luôn có cái nhìn trái chiều trong lịch sử thế giới. Đó là hình ảnh kiêu hùng của những chiến binh Mông Cổ tung vó ngựa khắp thảo nguyên rộng lớn, nhưng đó cũng là nỗi khiếp sợ kinh hoàng khi đoàn chiến binh này xua quân đi khắp thế giới với mưu đồ bá chủ. Người xưa thường nói: “Dưới vó ngựa Mông Cổ, cỏ không mọc được”.

Năm 1227, khi Thành Cát Tư Hãn qua đời, việc chôn cất thi hài và địa điểm lăng mộ của con người vang danh thế giới này vẫn là điều bí mật với nhiều huyền thoại. Ngay cả nguyên nhân cái chết của ông cũng có đến hàng chục giả thuyết: bị sét đánh, bị trúng độc, bị hành thích, bị người tình Tây Hạ hãm hại... Theo Nguyên triều bí sử của người Mông Cổ thì Thành Cát Tư Hãn chết bởi một nguyên nhân hết sức đơn giản, bị trúng tên và vết thương nhiễm trùng. Và cũng từ đấy thi hài của vị hoàng đế này chìm sâu vào bao điều bí mật trong suốt hơn 780 năm qua...

Thời tiết trong thảo nguyên Nội Mông thật khắc nghiệt, mới buổi tinh mơ còn rét run vì cái lạnh của những ngọn gió buốt thổi ngang tai, vậy mà trên đường từ thành phố Bao Đầu vào khu lăng mộ Thành Cát Tư Hãn lại nóng như đang đi giữa sa mạc. Natuja, cô gái người Mông Cổ hướng dẫn chúng tôi đi thăm khu lăng mộ cho biết: “Người Mông Cổ dù ở khắp nơi trên thế giới đều xem Thành Cát Tư Hãn là tối thượng, là “cha của dân tộc Mông Cổ”, nơi nào được đánh dấu là lăng mộ của vị hoàng đế này là người Mông Cổ luôn tìm đến viếng thăm, nhang khói... Khu lăng mộ này được xây dựng lên gắn với truyền thuyết chính là nơi Thành Cát Tư Hãn làm rơi chiếc roi ngựa, một vật bất ly thân của chiến binh Mông Cổ, đó là điềm báo xấu của vị hoàng đế Mông Cổ. Khu lăng mộ này, cũng như tất cả lăng mộ của Đại Hãn ở Trung Quốc, Mông Cổ đều hoàn toàn không có thi hài, người Mông Cổ tìm đến nơi này để thờ phượng linh hồn của ông”.
Lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn nằm ở đâu là một câu hỏi lớn chưa có lời giải với các nhà khảo cổ học ngày nay. Một số nhà sử học Mông Cổ cho rằng, Thành Cát Tư Hãn chọn lối “mật táng” để không ai nhận biết mộ thật của mình, tránh bị khai quật, phá hoại ở đời sau. Cũng theo Nguyên triều bí sử, sau khi chết, thi hài Thành Cát Tư Hãn được chôn giữa thảo nguyên bao la. Sau khi chôn cất, hàng đoàn chiến binh Mông Cổ đã quần thảo suốt nhiều ngày liền trên khắp thảo nguyên để vó ngựa xóa hết dấu vết khu mộ. Nhưng để các hậu duệ biết nơi chôn cất, trước khi chôn, các chiến binh đã bí mật đưa đến khu mộ hai mẹ con lạc đà và làm lễ hiến tế lạc đà con trước mắt lạc đà mẹ. Với quan niệm của người Mông Cổ, lạc đà là loài vật có tình mẫu tử rất cao và trí nhớ rất tốt. Chỉ có lạc đà mẹ mới nhớ chính xác nơi con mình chết, và từ dấu vết này, các hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn có thể xác định lăng mộ bí mật. Hay một giả thuyết khác cho rằng, sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời, người Mông Cổ cho xây một con đập ngăn sông cho nước chảy ra hướng khác rồi chôn quan tài xuống đáy sông, sau đó phá đập cho nước chảy về theo hướng cũ, và quan tài sẽ vĩnh viễn nằm sâu dưới dòng sông, không ai có thể khai quật được...
Năm 2001, các nhà khảo cổ học Mỹ và Mông Cổ đã phát hiện một quần thể gồm 40 ngôi mộ ở gần vùng núi hoang mạc cách thủ đô Mông Cổ Ulan Bator 360 km. Giữa khu mộ này có một khối đá đỏ được cho là vết tích lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn. Khi khai quật, các nhà khảo cổ còn tìm được hài cốt của hơn 100 người thuộc tầng lớp quý tộc Mông Cổ và người ta cho rằng đây chính là lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn.
Năm 2002, Trung Quốc loan tin đã tìm thấy mộ của Thành Cát Tư Hãn nằm ở phía bắc thuộc khu tự trị Nội Mông, gần biên giới với CHLB Nga, dưới chân dãy núi Altai. Nhưng rồi tin này cũng không được xác định bằng công bố khoa học. Đến năm 2004, một đoàn thám hiểm hỗn hợp Mông Cổ - Nhật Bản khi khai quật vùng núi Avraga (Mông Cổ) đã phát hiện nền móng của một lăng tẩm với một bệ thờ bằng đá và các bát hương cổ chạm hình con rồng, bởi sử xưa đã từng ghi lại rằng: lăng mộ Thành Cát Tư Hãn có các bát hương to lớn luôn tỏa khói nghi ngút... Nhưng tất cả cho đến nay vẫn là giả thuyết.

“Những người Đạt Dĩ Phu”

Từ xa hàng cây số, chúng tôi đã có thể nhìn thấy lăng mộ của Thành Cát Tư Hãn với ba mái vòm khổng lồ đặc trưng của túp lều Mông Cổ in đậm phía chân trời. Thật không thể hình dung được sự hoành tráng của nó nếu chưa thấy tận mắt. Trước cổng vào khu lăng mộ là bức tượng Thành Cát Tư Hãn cưỡi ngựa nhìn về hướng tây - một tầm nhìn bá chủ thế giới của hơn 780 năm trước - chinh tây. Tượng cao 66m, con số 66 ứng với tuổi thọ của Đại Hãn. Đi qua 99 bậc thang là đến khu lăng mộ nằm trên ngọn đồi cao 279m. Bên trái lăng là đàn tế “Chiến Thần Xu-lơ-tơ” - thứ vũ khí lợi hại, mang đến cho đoàn quân Mông Cổ danh hiệu bách chiến bách thắng...

Trước khi bước chân vào lăng mộ, chúng tôi buộc phải gửi lại bên ngoài tất cả máy ảnh, máy quay phim, vì theo những người trông coi lăng cho biết: “Không ai có thể làm kinh động đến giấc ngủ ngàn thu của vị hoàng đế Mông Cổ”. Cô Natuja, người dẫn đường cho chúng tôi nói: “Những người trông coi lăng mộ Thành Cát Tư Hãn đều thuộc bộ tộc Đạt Dĩ Phu, một trong những bộ tộc tuyệt đối trung thành với đế chế Mông Cổ từ khi Đại Hãn còn sống. Những người Đạt Dĩ Phu luôn được tuyển chọn làm cận vệ, bảo vệ trong các cung điện của hoàng đế Mông Cổ từ xa xưa, khi hoàng đế băng hà, họ cũng là những người lo hậu sự trong vòng bí mật và được chôn sống theo hoàng đế. Từ khi xây dựng lăng cho đến nay đã gần 800 năm đã có đến 39 thế hệ bộ tộc Đạt Dĩ Phu được tuyển chọn để trông coi lăng, lo việc cúng bái, nhang đèn. Hiện nay trong nội điện của khu lăng mộ có đến 30 người Đạt Dĩ Phu phục vụ ngày đêm. Cũng theo cô Natuja, chưa bao giờ có người của bộ tộc khác được chọn vào làm việc trong nội điện lăng.

Theo một người đàn ông Đạt Dĩ Phu cao lớn đi thăm lăng, một không khí lạnh lẽo bao trùm cả khu lăng rộng mênh mông, hai bên tả hữu là nơi thờ phượng các dụng cụ như lều, yên ngựa, roi ngựa, chiến xa, binh khí... được xem là bản gốc còn lưu giữ từ thời Thành Cát Tư Hãn còn sống được lưu truyền qua hàng chục đời các quan cận thần người Đạt Dĩ Phu cho đến ngày hôm nay. Nơi chính điện là bức tượng Thành Cát Tư Hãn bằng bạch ngọc cao 4,3m. Nơi gian thờ linh hồn của Thành Cát Tư Hãn có một chiếc đèn dùng bằng mỡ ngựa cháy lung linh, mà theo người đàn ông Đạt Dĩ Phu trông coi điện cho biết: Người Mông Cổ gọi đó là “Trường Minh Đăng” - ngọn đèn không bao giờ tắt, ngọn lửa được lấy đi từ cung điện của hoàng đế sau khi ông băng hà và được lưu giữ không bao giờ tắt trong suốt hơn 780 năm qua. Đó chính là linh hồn của Thành Cát Tư Hãn.

Điều đặc biệt làm chúng tôi chú ý là ngay gian chính của lăng, có một tấm bản đồ bằng đá to lớn, trên khắc bản đồ của đế quốc Mông Cổ mà chúng tôi dễ nhận ra phía bắc bao trùm cả nước Nga, phía Tây vươn tới Địa Trung Hải, phía Đông ra tận biển Nhật Bản và phía nam gần như bao trùm cả nước Trung Hoa rộng lớn ngày nay. Nên nhớ rằng đến năm 1227, khi Thành Cát Tư Hãn băng hà, đế quốc Mông Cổ rộng đến 30 triệu cây số vuông, gấp ba lần diện tích Trung Quốc ngày nay.

Trước mộ Thành Cát Tư Hãn, lăng mộ của vị hoàng đế một thời thôn tính cả thế giới, những người Việt Nam hiếm hoi có mặt ở đây như chúng tôi bỗng dâng trào niềm tự hào. Đã ba lần những danh tướng và con cháu của Thành Cát Tư Hãn đem quân xâm chiếm nước Nam nhỏ bé và cả ba lần vó ngựa Nguyên - Mông đều bị chặn đứng.
 

Bebycoi

Bebycoi!
#9
Vladimir Ilyich Lenin!

Tuổi trẻ

Vladimir Ilit Ulyanov (Lenin) khoảng năm 1887Lenin sinh tại Simbirsk, Nga (hiện là Ulyanovsk), là con trai của vợ chồng Ilya Nikolaevich Ulyanov (1831–1886), một quan chức dân sự Nga làm việc để mở rộng dân chủ và giáo dục đại chúng miễn phí ở Nga, và Maria Alexandrovna Ulyanova (1835–1916), một người theo chủ nghĩa tự do. Lenin là người có dòng máu lai từ thời tổ tiên. Là người Nga nhưng ông có dòng máu của người Kalmyk qua ông nội, của người Đức Volga qua bà ngoại (là một người theo thuyết Luther), và của người Do Thái qua ông ngoại (người đã cải theo đạo Thiên chúa giáo). Lenin được rửa tội trong Nhà thờ chính thống Nga.

Lenin nổi tiếng học giỏi tiếng Latin và tiếng Hy Lạp. Hai bi kịch đã xảy ra trong thời niên thiếu của ông. Lần đầu khi cha ông mất vì xuất huyết não năm 1886. Tháng 5 năm 1887 anh cả của ông Aleksandr Ilyich Ulyanov bị treo cổ vì tham gia vào một âm mưu ám sát Sa hoàng Aleksandr III. Việc này đã làm Lenin trở thành người cấp tiến. Tiểu sử chính thức của ông thời Xô Viết coi sự kiện này có ảnh hưởng lớn tới các quá trình cách mạng của ông. Một bức tranh nổi tiếng của Belousov, Chúng ta sẽ đi theo một con đường khác, được in lại hàng triệu lần trong những cuốn sách thời Xô Viết, mô tả cậu bé Lenin và mẹ đang buồn bã khi mất người anh trai. Câu nói "Chúng ta sẽ theo một con đường khác" có nghĩa là Lenin đã lựa chọn chủ nghĩa Marx để tiếp cận tới cách mạng nhân dân, thay vì những phương pháp vô chính phủ cá nhân. Khi Lenin bắt đầu quan tâm tới chủ nghĩa Marx, ông tham gia vào các cuộc phản kháng của sinh viên và cuối năm đó bị bắt. Sau đó ông bị đuổi khỏi Đại học Kazan. Ông tiếp tục học tập một mình và tới năm 1891 đã có giấy phép hành nghề luật.

Tháng 7 năm 1898, ông cưới Nadezhda Krupskaya, một người hoạt động xã hội.
 

Bebycoi

Bebycoi!
#10
Cách mạngNgay khi tốt nghiệp, Lenin vào làm trợ lý cho một luật sư. Ông làm việc nhiều năm tại Samara, Nga, sau đó vào năm 1893 chuyển tới Sankt-Peterburg. Thay vì tìm kiếm một công việc hợp pháp ổn định, ông ngày càng tham gia sâu vào các hoạt động tuyên truyền cách mạng và nghiên cứu chủ nghĩa Marx. Ngày 7 tháng 12 năm 1895, ông bị nhà chức trách bắt giam 14 tháng sau đó trục xuất tới một làng tại Shushenskoye ở Siberia.

Tháng 4 năm 1899, ông xuất bản cuốn sách Sự phát triển của Chủ nghĩa Tư bản tại Nga. Năm 1900, thời kỳ đi đày chấm dứt. Ông đi du lịch nước Nga và những nơi khác ở Châu Âu. Lenin đã sống tại Zürich, Genève, Munchen, Praha, Wien và Luân Đôn và trong khi bị đi đày ông đã sáng lập tờ báo Iskra. Ông cũng viết một số bài báo và cuốn sách về phong trào cách mạng. Trong giai đoạn này, ông đã bắt đầu sử dụng nhiều bí danh, cuối cùng lấy tên Lenin.

Ông hoạt động trong Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga (RSDLP; РСДРП trong tiếng Nga), và vào năm 1903 ông lãnh đạo phái Bolshevik sau một sự chia rẽ với những người Mensheviks, điều này xảy ra một phần từ cuốn sách nhỏ của ông Điều cần làm?. Năm 1906 ông được bầu làm Chủ tịch RSDLP. Năm 1907 ông tới Phần Lan vì những lý do an ninh. Ông tiếp tục đi du lịch Châu Âu và tham gia vào nhiều cuộc gặp gỡ cũng như các hoạt động xã hội, gồm cả Hội thảo Đảng Praha năm 1912 và Hội thảo Zimmerwald năm 1915. Khi Inessa Armand rời Nga sang sống tại Paris, bà đã gặp Lenin và những người Bolsheviks khác đang bị trục xuất, và được cho là đã trở thành một người cộng tác của Lenin trong thời gian đó. Sau đó Lenin đi sang Thụy Sĩ.

Richard Pipes cho rằng Lenin đã phân tích Công xã Paris và kết luận rằng công xã đó thất bại vì "sự khoan hồng quá mức - đúng ra Công xã phải tiêu diệt những kẻ thù của mình". Tuy nhiên, cả câu trích dẫn, như Lenin đã nói trong một bài phát biểu đã được chuyển tới một cuộc gặp gỡ quốc tế tại Genève ngày 18 tháng 3 năm 1908, nhân ngày lễ kỷ niệm Công xã như sau: "Dù giai cấp vô sản xã hội đã bị chia rẽ thành nhiều phe, Công xã là một ví dụ cụ thể về sự đoàn kết để khi có nó giai cấp vô sản có thể hoàn thành các nhiệm vụ dân chủ mà giai cấp tư sản chỉ có thể tuyên bố ra. Không cần có một điều luật phức tạp đặc thù nào cả, một cách đơn giản, rõ ràng, giai cấp vô sản, khi đã nắm quyền lực, sẽ tiến hành dân chủ hóa hệ thống xã hội, xóa bỏ quan liêu và khiến cho mọi chức vụ nhà nước đều thông qua bầu cử. Hai sai lầm đã tiêu diệt thành quả của một chiến thắng vẻ vang. Giai cấp vô sản đã dừng lại nửa chừng; thay vì tiếp tục 'chiếm đoạt của những kẻ chiếm đoạt,' họ đã cho phép mình đi chệch hướng bởi những mơ ước về một sự công bằng tuyệt đối trong một đất nước thống nhất bởi một mục tiêu quốc gia; những định chế, như ngân hàng, đã không bị nắm giữ. .... Sai lầm thứ hai là sự khoan dung quá đáng của giai cấp vô sản: đúng ra họ phải tiêu diệt các kẻ thủ, nhưng thay vào đó họ lại gắng sức dùng đạo đức để gây ảnh hưởng tới chúng; họ đã bỏ qua tầm quan trọng của hoạt động quân sự thuần túy trong một cuộc nội chiến và thay vì tiếp tục tiến bước mạnh mẽ tới Versailles và giành lấy chiến thắng ở Paris, họ đã trì hoạn và do vậy cho phép chính phủ Versailles tập hợp các lực lượng của mình, chuẩn bị trước cho những sự kiện đẫm máu trong tuần lễ tháng 5."

Khi Thế chiến thứ nhất xảy ra năm 1914, và các đảng Dân chủ Xã hội lớn tại Châu Âu (khi đó họ tự coi họ là theo chủ nghĩa Marx), gồm cả những người có uy tín như Karl Kautsky, ủng hộ những nỗ lực chiến tranh của chính phủ nước mình, Lenin đã rất sửng sốt, đầu tiên từ chối tin rằng những người của Đảng Dân chủ Xã hội Đức đã bỏ phiếu ủng hộ chiến tranh. Điều này khiến ông bị chia rẽ lần cuối cùng với Quốc tế Thứ hai, gồm các đảng đó. Lenin đã chấp nhận một lập trường "không yêu nước", cho rằng mục đích là để đánh bại chính phủ Sa hoàng trong chiến tranh.

Sau cuộc Cách mạng tháng Hai năm 1917 tại Nga và cuộc lật đổ Sa hoàng Nikolai II, Lenin biết rằng ông cần sớm trở lại nước Nga. Nhưng ông đã bị cô lập tại Thụy Sĩ trung lập khi Thế chiến thứ nhất đang ở giai đoạn cao trào và không thể dễ dàng đi qua Châu Âu. Tuy nhiên, Fritz Platten, người cộng sản Thụy Sĩ đã tìm cách đàm phán với chính phủ Đức để Lenin và những người của ông có thể đi bằng tàu hỏa kín qua nước Đức. Mọi người tin rằng chính Kaiser Wilhelm II đã hy vọng Lenin sẽ gây ra tình trạng bất ổn chính trị ở Nga giúp ông chấm dứt chiến tranh tại Mặt trận phía Đông. Khi còn ở trên lãnh thổ Đức, Lenin không được phép ra khỏi đoàn tàu. Khi đã qua Đức, Lenin tiếp tục đi phà tới Thụy Điển và chặng đường xuyên Scandinavia còn lại đã được những người cộng sản Thụy Sĩ là Otto Grimlund và Ture Nerman thu xếp.


Lênin cải trang đeo tóc giả và cạo nhẵn râu ở Phần Lan 11 tháng 8 năm 1917Ngày 16 tháng 4 năm 1917, Lenin quay trở về Petrograd và nhận vai trò lãnh đạo bên trong phong trào Bolshevik, xuất bản Luận cương tháng 4. Luận cương tháng 4 kêu gọi kiên quyết phản đối chính phủ lâm thời. Ban đầu vì có sự không rõ ràng trong cánh tả Lenin giữ khoảng cách với đảng của ông. Tuy nhiên, lập trường kiên quyết này có nghĩa rằng những người Bolsheviks đã trở thành lãnh đạo của quần chúng bởi vì họ không còn ảo tưởng ở chính phủ lâm thời, và nhờ sự xa hoa của phe đối lập những người Bolsheviks đã không còn phải chịu trách nhiệm về bất cứ hậu của nào của việc áp dụng những chính sách của họ.

Trong khi ấy, Aleksandr Kerensky và những người đối lập khác trong Bolsheviks buộc tội Lenin là một điệp viên ăn lương của Đức. Trước lời buộc tội đó, một lãnh đạo khác là Lev Davidovich Trotsky đã có một bài phát biểu mang tính quyết định ngày 17 tháng 7, cho rằng: "Một không khí không thể chịu đựng nổi đang diễn ra, trong đó cả các bạn và tôi đều bị sốc. Người ta đang tung ra những lời buộc tội bẩn thỉu nhằm vào Lenin và Zinoviev. ... Lenin đã đấu tranh vì cách mạng trong ba mươi năm. Tôi đã chiến đấu hai mươi năm chống lại sự áp bức con người. Và chúng ta không thể là gì khác ngoài việc nuôi dưỡng lòng căm thù với chủ nghĩa quân phiệt Đức. ... Tôi từng bị một tòa án tại Đức kết án tám tháng tù vì tội đấu tranh chống chủ nghĩa quân phiệt Đức. Điều này tất cả mọi người đều biết. Đừng ai trong phòng này nói rằng chúng ta là những kẻ làm thuê của Đức." [8]

Sau cuộc nổi dậy bất thành của công nhân vào tháng 7, Lenin bỏ trốn tới Phần Lan. Ông quay trở lại vào tháng 10, hô hào một cuộc cách mạng vũ trang với khẩu hiệu "Tất cả quyền lực về tay Xô Viết!" chống lại Chính phủ Lâm thời. Các ý tưởng về chính phủ của ông đã được thể hiện trong bài tiểu luận "Quốc gia và Cách mạng" [9], kêu gọi thành lập một hình thức chính phủ mới dựa trên các hội đồng công nhân hay các sô viết. Trong tác phẩm này, ông cũng cho rằng, trên nguyên tắc, những người công nhân bình thường có thể điều hành một nhà máy hay một chính phủ. Dù ông nhấn mạnh rằng, để điều hành một quốc gia, người công nhân phải "học chủ nghĩa cộng sản." Ông còn nhấn mạnh thêm rằng một thành viên chính phủ phải nhận đồng lương không được cao hơn lương một người công nhân tầm trung bình.
 

Bebycoi

Bebycoi!
#11
Chủ tịch chính phủ
Lenin trên diễn đàn của Aleksandr GerasimovNgày 8 tháng 11, Lenin được Đại hội Xô viết Nga bầu làm Chủ tịch Hội đồng Dân ủy. Lenin nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa điện tới mọi vùng nước Nga và hiện đại hóa công, nông nghiệp. Ông rất quan tâm tới việc tạo ra một hệ thống chăm sóc sức khỏe miễn phí và toàn diện cho mọi người dân, giải phóng phụ nữ và dạy cho những người dân mù chữ Nga biết đọc, viết. Nhưng trước hết, chính phủ Bolshevik mới cần đưa nước Nga ra khỏi Thế chiến thứ nhất.

Đối mặt với mối đe dọa xâm lăng từ nước Đức, Lenin cho rằng Nga cần ngay lập tức ký kết một hiệp ước hòa bình. Những lãnh tụ Bolshevik khác, như Bukharin, ủng hộ tiếp tục tham chiến, coi đó là một biện pháp mang cách mạng tới nước Đức. Lev Davidovich Trotsky, người chỉ đạo các cuộc đàm phán, ủng hộ một lập trường trung gian, "Không Chiến tranh, Không Hòa bình", kêu gọi chỉ ký hiệp ước hòa bình với điều kiện không một phần đất chiếm thêm được của bất kỳ bên nào được hợp nhất với lãnh thổ nước đó. Sau khi những cuộc đàm phán thất bại, Đức tấn công chiếm giữ nhiều vùng rộng lớn phía tây nước Nga. Sau các sự kiện mang tính bước ngoặt này, lập trường của Lenin được đa số ban lãnh đạo Bolshevik ủng hộ. Ngày 3 tháng 3 năm 1918, Lenin rút lui nước Nga ra khỏi Thế chiến thứ nhất khi đồng ý ký kết Hiệp ước Brest-Litovsk, theo đó nước Nga mất một phần lớn lãnh thổ tại Châu Âu.

Sau khi những người Bolshevik thất bại trong cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến Nga, cùng với sự hậu thuẫn mạnh mẽ của đại đa số công nhân ở hai thành phố lớn là Petrograd và Moskva, họ đã sử dụng lực lượng Hồng vệ binh buộc cuộc họp lần thứ nhất của Quốc hội phải ngừng lại ngày 19 tháng 01. Sau đó, những người Bolshevik đã tổ chức ra một tổ chức Phản-Quốc hội, Đại hội Xô viết thứ ba, cho phép họ và các đồng minh có được hơn 90% số ghế, cho rằng "chuyên chính vô sản" trước tiên là một đạo luật của chính giai cấp vô sản: "Tất nhiên, những người cho rằng có thể lấp đầy hố sâu ngăn cách giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, hay những người tưởng tượng rằng điều đó có thể thuyết phục đa số nhân dân rằng nó có thể xảy ra thông qua trung gian của Quốc hội Lập hiến - những người tin vào câu chuyện ngụ ngôn của tầng lớp tư sản dân chủ, có thể vô tình tin tưởng điều đó, nhưng hãy đừng để họ phàn nàn nếu cuộc sống lật tẩy câu chuyện ngụ ngôn này," và nói thêm rằng "lý do lớn nhất tại sao 'những người xã hội chủ nghĩa' (như, những người dân chủ tiểu tư sản) của Quốc tế Thứ hai không hiểu được sự chuyên chính vô sản là bởi họ không hiểu được rằng quyền lực nhà nước nằm trong tay một tầng lớp, tầng lớp vô sản, có thể và phải trở thành một phương tiện cho phe chiến thắng của tầng lớp vô sản của đông đảo nhân dân vô sản, một phương tiện để giành chiến thắng của tầng lớp đó trước giai cấp tư sản và những đảng tiểu tư sản."

Những người Bolshevik đã thành lập một chính phủ liên minh với cánh tả Cách mạng Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, liên minh của họ đã tan vỡ sau khi Cách mạng Xã hội chủ nghĩa phản đối hiệp ước Brest-Litovsk, và họ gia nhập cùng với các đảng khác tìm cách lật đổ chính phủ Xô viết. Tình hình diễn biến theo chiều hướng xấu, các đảng không Bolshevik (gồm một số phái xã hội chủ nghĩa) tích cực tìm cách lật đổ chính phủ Bolshevik. Lenin phản ứng lại cách hành động đó bằng cách ngăn chặn các hoạt động cảu họ và bỏ tù một số thành viên các đảng đối lập.

Dù Lenin đã ủng hộ và giúp đỡ thành lập một chế độ "Dân chủ Xô viết," những người phản đối Lenin thuộc cánh hữu, như Kautsky, và thuộc cánh tả như Kollontai, vẫn cho rằng ông thủ tiêu sự giải phóng giai cấp vô sản và nền dân chủ (quyền kiểm soát của công nhân thông qua các Xô Viết hay các hội đồng công nhân). Có người cho rằng đây là hành động mở đường cho chủ nghĩa Stalin sau này. Dù nhiều cơ quan và chính sách do Stalin lập ra và sử dụng như cảnh sát mật, trại lao động, và việc hành quyết các đối thủ chính trị vốn bị chỉ trích nặng nề cũng đã được sử dụng dưới tới cầm quyền của Lenin, các kỹ thuật đó cũng thường được các Sa hoàng sử dụng từ lâu trước thời Lenin, và cũng từ lâu đã là các phương tiện tiêu chuẩn để đối phó với bất đồng chính trị ở nước Nga. Tuy nhiên, mức độ sử dụng có khác nhau; số tù nhân chính trị bị hành quyết trong vài tháng đầu cầm quyền của phái Bolshevik lớn gấp ba lần con số đó trong 90 năm chế độ Nga Hoàng. [13] Tuy nhiên, "thực tế" này, hiện vẫn đang bị tranh cãi. Cũng cần nhớ rằng tỷ lệ các hoàn cảnh dẫn tới những phản ứng của người Bolshevik cũng khác rất xa: một đất nước bị tàn phá nặng nề bởi một cuộc chiến tranh thế giới, một quần chúng thất học sau giai đoạn Sa hoàng, một lực lượng đối lập sẵn sàng hy sinh để lật đổ chính quyền Bolshevik, vân vân. Hơn nữa, Trotsky tuyên bố rằng một "con sông máu" chia tách Lenin khỏi những hành động của Stalin bởi vì Stalin đã hành quyết nhiều đồng chí cũ của Lenin cũng như những người ủng hộ họ, trong nhóm Đối lập cánh Tả. Trong số này có cả chính Trotsky.

Quan điểm của những người theo chủ nghĩa Lenin về cách mạng đòi hỏi một bộ máy cán bộ cách mạng chuyên nghiệp vừa có nhiệm vụ chỉ huy đại chúng trong cuộc đấu tranh giành quyền lực và tập trung hóa kinh tế cũng như quyền lực hành chính vào tay một đất nước của công nhân. Từ mùa xuân năm 1918, Lenin đã vận động đặt những cá nhân có trách nhiệm vào cương vị đứng đầu mỗi nhà máy, trái ngược lại hầu hết các quan điểm về sự tự quản của công nhân, nhưng hoàn toàn cần thiết cho hiệu quả sản xuất và về mặt chuyên môn. Như S.A. Smith đã viết: "Tới cuối cuộc nội chiến, không có nhiều nhà máy hoạt động theo những hình thức dân chủ trong quản lý công nghiệp như kiểu các hội đồng nhà máy từng được cổ động trong năm 1917, nhưng chính phủ cho rằng điều này không phải là vấn đề bởi vì nền công nghiệp đã dựa trên sự sở hữu của một quốc gia công nhân." Trong cuộc nội chiến, dân chủ không phải được tập trung bên trong đảng Bolshevik và sau này là Bộ Chính trị của Đảng cộng sản Liên xô.

Để bảo vệ chính phủ Bolshevik mới thành lập trước những kẻ phản cách mạng, chính quyền của Lenin đã tạo ra lực lượng cảnh sát mật, Cheka, ngay sau cuộc cách mạng. Những người Bolshevik đã lập kế hoạch tổ chức một phiên tòa xét xử Sa hoàng Nikolai II vì những tội ác chống lại nhân dân Nga, nhưng vào tháng 8 năm 1918 khi Bạch vệ tiến về Yekaterinburg (nơi gia đình hoàng gia đang bị cầm giữ), Sverdlov đã nhanh chóng ra quyết định hành quyết Sa hoàng và cả gia đình hoàng gia để quân Bạch vệ không thể giải thoát cho họ. Sau này Sverdlov đã thông báo với Lenin về vụ hành quyết, Lenin đồng ý rằng đó là một quyết định đúng đắn, bởi vì những người Bolsheviks không muốn để hoàng gia trở thành một biểu tượng của Bạch vệ.

Ngày 30 tháng 8 năm 1918, Fanya Kaplan, một thành viên của Đảng Cách mạng Xã hội chủ nghĩa, tiếp cận Lenin sau khi ông tham dự một buổi mít-tinh và đang quay ra xe hơi. Bà gọi tên Lenin, ông quay lại trả lời. Bà ngay lập tức bắn ba phát, hai phát trúng Lenin ở khuỷu tay và lưng. Lenin được đưa về căn hộ tại Kremlin, từ chối tới bệnh viện bởi ông tin rằng những kẻ ám sát khác đang rình rập ở đó. Các bác sĩ được triệu tới, nhưng cho rằng sẽ là quá nguy hiểm nếu lấy viên đạn ra. Sau này Lenin đã hồi phục dù sức khỏe của ông bắt đầu giảm sút từ thời điểm đó. Mọi người cho rằng vụ ám sát có liên quan tới những cơn đột quỵ sau này của ông.

Chính phủ Bolshevik phản ứng lại vụ ám sát, và những sự tập hợp nỗ lực chống cộng từ các đối thủ của họ bằng cái họ gọi là Khủng bố Đỏ. Hàng chục nghìn người bị coi là kẻ thù của cách mạng, nhiều người bị hành quyết hay tống vào các trại lao động vì có âm mưu chống lại chính phủ Bolshevik.

Theo Orlando Figes, Lenin luôn ủng hộ "sự khủng bố số đông chống lại những kẻ thù cách mạng" và luôn bày tỏ quan điểm rằng nhà nước vô sản là một hệ thống bạo lực được tổ chức chống lại những tổ chức của chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên theo Figes, trong khi được những người Bolsheviks khuyến khích, sự khủng bố có gốc rễ trong sự giận dữ của nhân dân chống lại tầng lớp ưu thế. (A Peoples Tragedy, trang 524-525) Vào cuối năm 1918 khi Kamenev và Bukharin tìm cách kìm chế những "sự thái quá" của Cheka, chính Lenin là người đã đứng ra bảo vệ tổ chức này. (Figes trang 649) Tuy nhiên, mức độ của cái gọi là "những sự thái quá," cũng như những lý do của Lenin ẩn giấu sau sự bảo vệ đó không hề được nêu tên.

Tháng 3 năm 1919, Lenin và các lãnh đạo Bolshevik khác gặp gỡ với các nhà cách mạng xã hội chủ nghĩa từ khắp nơi trên thế giới và lập ra Quốc tế Cộng sản. Các thành viên của Quốc tế Cộng sản, gồm Lenin và cả những người Bolshevik ngừng quan hệ với phong trào xã hội chủ nghĩa ở tầm vóc rộng lớn hơn. Từ đó trở về sau, họ sẽ được gọi là những người cộng sản. Tại Nga, Đảng Bolshevik được đổi tên thành "Đảng Cộng sản Nga (bolshevik)", (sau này thành Đảng Cộng sản Liên Xô).

Trong lúc ấy cuộc nội chiến lan tràn khắp nước Nga. Nhiều phong trào chính trị và những người ủng hộ họ đứng lên cầm vũ khí nhằm lật đổ chính phủ Sô viết. Dù có nhiều phe cánh tham gia cuộc nội chiến, hai lực lượng chính là Hồng quân (bolshevik) và Bạch vệ (phe ủng hộ Nga hoàng). Các cường quốc bên ngoài như Pháp, Anh, Hoa Kỳ và Nhật Bản cũng can thiệp vào cuộc chiến tranh này (đứng bên phía Bạch vệ). Cuối cùng, đội quân được tổ chức tốt và có hiệu quả hơn là Hồng quân, do Trotsky chỉ huy, đã giành chiến thắng, đánh bại các lực lượng Bạch vệ và đồng minh của họ năm 1920. Tuy nhiên, những cuộc chiến ở tầm nhỏ hơn vẫn tiếp tục trong nhiều năm nữa.

Trong thời kỳ hỗn loạn của chiến tranh và cách mạng này, cả các lực lượng Bạch vệ và Hồng quân thường "hành xử một cách tàn bạo và độc ác tại các vùng họ kiểm soát. Các thị trấn bị đốt phá, tài sản bị lấy cắp hay phá huỷ, mùa màng và lương thực của nông dân bị tước đoạt bằng vũ lực — nếu chống lại, người dân sẽ bị tra tấn hay hành quyết." Brovkin cho rằng những hành động này không những vượt quá những nhu cầu của quân đội mà còn ở tầm khủng bố cao tới mức gây phá hủy sản xuất. Theo ông, sự căm giận của nhân dân đằng sau chiến tuyến có thể giải thích bằng việc cả Bạch vệ và Hồng quân đều là những người thua cuộc sau cuộc nội chiến.. (Phía sau những Giới tuyến của cuộc Nội chiến: Các đảng chính trị và các phong trào xã hội tại Nga, 1918-1922).

Những tháng cuối năm 1919, các chiến thắng giành được trước Bạch vệ khiến Lenin tin rằng đã tới thời điểm mở rộng cách mạng sang phía tây, bằng vũ lực nếu cần thiết. Khi nền Cộng hòa Ba Lan thứ hai mới được thành lập bắt đầu đòi lại những vùng lãnh thổ đã bị nước Nga sáp nhập trong vụ phân chia Ba Lan vào cuối thế kỷ 18, họ đã xung đột với các lực lượng Bolshevik để giành quyền kiểm soát các vùng này, dẫn tới sự bùng nổ Chiến tranh Ba Lan-Xô viết năm 1919. Với sự phát triển của cách mạng tại Đức và Liên đoàn Spartacus, Lenin coi đó là thời điểm và địa điểm chín muồi nhất để "thăm dò Châu Âu bằng những lưỡi lê Hồng quân." Lenin coi Ba Lan là cây cầu nối mà Hồng quân có thể dùng để kết nối cách mạng Nga với những người ủng hộ Cách mạng Đức, và hỗ trợ các phong trào cộng sản ở Tây Âu. Tuy nhiên sự thất bại của nước Nga Xô viết trong cuộc chiến tranh Ba Lan-Xô viết khiến các kế hoạch đó bị hủy bỏ.

Lenin là người chỉ trích mạnh mẽ chủ nghĩa đế quốc. Năm 1917 ông tuyên bố quyền tự quyết và phân chia các dân tộc quốc gia và đàn áp các quốc gia vô điều kiện, thường được coi là các quốc gia trước kia thuộc quyền kiểm soát của chủ nghĩa tư bản đế quốc. Tuy nhiên, khi cuộc Nội chiến Nga chấm dứt, ông đã dùng các lực lượng quân sự để đồng hóa các quốc gia mới giành độc lập là Armenia, Gruzia và Azerbaijan, cho rằng sự sáp nhập các quốc gia đó vào đất nước Sô viết sẽ che chở họ khỏi những tham vọng của chủ nghĩa đế quốc. Điều này cho phép các quốc gia đó được chấp nhận thành một phần của Liên bang xô viết hơn là đơn giản buộc họ trở thành một phần lãnh thổ Nga, hành động này sẽ bị coi là hành động đế quốc.

Sau nhiều năm chiến tranh kéo dài, chính sách cộng sản thời chiến của Bolshevik, cộng với Nạn đói năm 1921 tại Nga và sự bao vây từ các chính phủ tư bản thù địch làm đa phần đất nước bị tàn phá. Đã có nhiều cuộc nổi dậy của nông dân, vụ lớn nhất là cuộc Nổi dậy Tambov. Sau một cuộc khởi nghĩa của những thủy thủ tại Kronstadt vào tháng 3 năm 1921, Lenin đã thay thế chính sách Cộng sản thời chiến bằng Chính sách kinh tế mới (NEP)hay còn gợi là cộng sản thời bình, trong một nỗ lực thắng lợi nhằm tái xây dựng công nghiệp và đặc biệt là nông nghiệp.
 

Bebycoi

Bebycoi!
#12
Đấu tranh chống chủ nghĩa bài Do Thái
Sau cuộc cách mạng, Lenin rất chú tâm đấu tranh chống Chủ nghĩa bài Do Thái, khi ấy vẫn đang tồn tại ở nước Nga như một di sản từ thời Sa hoàng. Trong một bài phát biểu trên radio năm 1919, Lenin nói: "Cảnh sát Nga hoàng, cùng với những kẻ chủ đất và những tên tư bản, đã tổ chức các cuộc tàn sát người Do Thái. Những kẻ chủ đất và tư bản đã tìm cách hướng sự căm thù của công nhân và người nông dân, những tầng lớp nghèo khổ, về phía người Do Thái. ... Chỉ những người dốt nát nhất và những người bị áp bức mới có thể tin vào những lời nói dối và những câu báng bổ do chúng tuyên truyền về người Do Thái. ... Người Do Thái không phải là kẻ thù của nhân dân lao động. Những kẻ thù của công nhân là bọn tư bản trên thế giới. Trong số những người Do Thái có những người dân lao động, và họ là đa số. Họ là những người anh em của chúng ta, giống như chúng ta, họ cũng bị bọn tư bản bóc lột; họ là những đồng chí của chúng ta trong cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội. ... Thật đáng hổ thẹn cho hành động hành hạ người Do Thái của bọn Sa hoàng. Thật đáng hổ thẹn cho những kẻ gây lòng hận thù với người Do Thái, những kẻ gây sự chia rẽ giữa các quốc gia."
 

Bebycoi

Bebycoi!
#13
Mất sớm
Sức khỏe Lenin đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau những căng thẳng trong cuộc cách mạng và nội chiến. Vụ ám sát ông càng làm tình trạng thêm tồi tệ. Viên đạn vẫn nằm trong cổ ông, quá gần xương sống để có thể lấy ra trong tình trạng kỹ thuật y tế thời ấy. Tháng 5 năm 1922, Lenin bị đột quỵ lần đầu tiên. Ông bị tê liệt nửa người bên phải và dần giảm bớt ảnh hưởng trong chính phủ. Sau vụ đột quỵ thứ hai vào tháng 12 năm ấy, ông hầu như từ bỏ các hoạt động chính trị. Tháng 3 năm 1923, ông bị đột quỵ lần thứ ba và phải nằm liệt giường trong cả phần đời còn lại, thậm chí không thể nói được.

Sau lần đột quỵ đầu tiên, Lenin đã đọc cho thư ký ghi lại một số tài liệu về chính phủ và vợ ông. Nổi tiếng nhất trong số đó là bản Di chúc của Lenin, trong đó cùng với nhiều sự kiện khác ông đã chỉ trích những nhà lãnh đạo cộng sản hàng đầu, đặc biệt là Joseph Stalin. Về Stalin, người từng là tổng thư ký Đảng cộng sản từ tháng 4 năm 1922, Lenin nói rằng Stlain có "quyền lực vô hạn tập trung trong tay" và đề xuất rằng "các đồng chí nghĩ cách lật đổ Stalin ra khỏi vị trí ấy." Ngay khi Lenin qua đời, vợ ông đã gửi bản Di chúc tới ủy ban trung ương, nó được đọc trước Đại hội lần thứ 13 của Đảng cộng sản vào tháng 5 năm 1924. Tuy nhiên, vì di chúc chỉ trích tất cả những nhân vật có ảnh hưởng nhiều nhất trong ủy bản trung ương: Zinoviev, Kamenev, Bukharin và Stalin, ủy ban đã quyết định không công bố nó ra đại chúng. Ủy ban trung ương cho rằng di chúc là hậu quả của tình trạng tâm thần bất ổn của Lenin trong những năm cuối đời, và vì thế, những lời phán xét cuối cùng của ông không đáng tin cậy. Việc không đếm xỉa tới những ý kiến của Lenin sau này thường được cho là một sai lầm nghiêm trọng.

Di chúc của Lenin (Lenin's Testament) được Max Eastman xuất bản chính thức lần đầu tiên năm 1926 tại Hoa Kỳ.

Lãnh tụ Vladimir Ilyich Lenin qua đời ngày 21 tháng 1, 1924 ở tuổi 53. Lý do chính thức dẫn tới cái chết của Lenin là xơ cứng động mạch não, hay cơn đột quỵ lần thứ tư.

Thành phố Petrograd đã được đổi tên thành Leningrad ba ngày sau khi Lenin qua đời để vinh danh ông; cái tên này giữ nguyên cho tới khi Liên bang xô viết sụp đổ năm 1991, khi nó lấy lại tên cũ là Sankt-Peterburg.

Thời gian đầu thập kỷ 1920 phong trào vũ trụ luận ở Nga khá sôi động và đã có ý tưởng bảo quản lạnh xác Lenin nhằm tái sinh trong tương lai. Những phương tiện cần thiết đã được mua về từ nước ngoài, nhưng vì một số lý do kế hoạch này không được thực hiện. Thay vào đó xác ông được ướp và đặt trong Lăng Lenin tại Mátxcơvangày 27 tháng 1, 1924.
 

Bebycoi

Bebycoi!
#14
Sau khi mất...
Thi hài Vladimir Lenin được bảo quản trong Lăng Lenin ở Moskva. Vì vai trò duy nhất của Lenin trong việc tạo lập nhà nước cộng sản đầu tiên, và dù ông đã bày tỏ ý muốn chỉ một thời gian ngắn trước khi qua đời rằng không nên xây dựng một đài tưởng niệm nào dành cho mình, chế độ Xô viết đã tôn vinh ông như một vị thánh tôn giáo. Tới thập kỷ 1980 hầu như mọi thành phố lớn ở Liên bang Xô viết đều có tượng Lenin ở quảng trường trung tâm, hoặc một phố Lenin hay một quảng trường Lenin gần trung tâm, và thường là 20 hay nhiều hơn nữa các bức tượng nhỏ hay tượng bán thân ông trên toàn lãnh thổ. . Trẻ em được kể các câu chuyện về "ông Lenin" từ khi chúng còn ở nhà trẻ.

Từ khi Liên bang Xô viết tan rã, mức độ sùng bái Lenin tại các nước cộng hòa hậu Xô viết đã giảm sút đáng kể, nhưng ông vẫn được nhiều thế hệ lớn lên trong giai đoạn Xô viết coi là một nhân vật có tầm ảnh hưởng quan trọng. Đa số các bức tượng Lenin đã bị hạ bệ ở Đông Âu, nhưng nhiều bức khác vẫn tại vị ở Nga. Thành phố Leningrad đã trở về với cái tên nguyên thủy của mình, Sankt-Peterburg, nhưng vùng xung quanh vẫn mang tên ông. Các công dân Ulyanovsk, nơi sinh Lenin, vẫn bác bỏ mọi ý định quay trở về cái tên cũ là Simbirsk. Việc mai táng thi hài Lenin vẫn là chủ đề gây tranh cãi trong 16 năm qua ở nước Nga.
 

Bebycoi

Bebycoi!
#15
Cái tên "LENIN"
"LENIN" là một trong những bí danh cách mạng của ông, và sau khi ông nắm quyền thì trở thành tên chính thức: Vladimir Ilyich Ulyanov trở thành Vladimir Ilyich Lenin. Thỉnh thoảng ông được báo chí phương Tây gọi là "Nikolai Lenin", nhưng người dân Liên Xô không bao giờ nghe tới cái tên này.

Đã có rất nhiều giả thuyết về nguồn gốc biệt hiệu đó, và Lenin cũng chưa từng kể rõ tại sao ông lại lựa chọn nó. Bản thân Lenin cũng đã từng viết một cuốn sách về các biệt danh hoạt động cách mạng của ông nhưng trong cuốn sách không hề có đề cập đến bí danh Lenin-cái tên được kí nhiều nhất trong các văn kiện của ông. Đã có nhiều giả thuyết về cái tên Lenin này. Có giả thuyết cho rằng cái tên Lenin là của một cụ già đã chết, sau khi cụ qua đời Ulyanov đã lấy cái tên này làm bí danh cho mình.

Có lẽ biệt hiệu này liên quan tới con sông Lena, tương tự như một nhân vật theo chủ nghĩa Marx nổi tiếng khác ở Nga, Georgi Plekhanov, người lấy biệt hiệu là Volgin theo tên con sông Volga. Có ý kiến cho rằng Lenin lựa chọn sông Lena vì đây là một con sông dài hơn và chảy theo hướng đối diện, nhưng trong cuộc đời mình Lenin không phản đối Plekhanov. Tuy nhiên, chắc chắn rằng nó không liên quan tới vụ hành quyết Lena, vì biệt hiệu đó đã ra đời trước sự kiện này.
 

Bebycoi

Bebycoi!
#16
(*) Những câu nói nổi tiếng
- Học, học nữa, học mãi!
- Người Cộng sản phải có một cái đầu lạnh và một trái tim hồng!
- Các thầy, cô giáo và Hồng quân đều là những thành trì của Cách mạng!
- Chúng ta không ngốc, nhưng hãy giả bộ như những thằng ngốc!
- Một nhà văn nếu như không tưởng tượng mình là thằng ngốc thì sẽ không thể miêu tả về thằng ngốc được!
 

Người Ở Lại

Tôi vẫn tìm Em...!
#17
Chủ quyền Biển Đông-Việt Nam

2 (GMT+7)

Nhà ngoại giao kỳ cựu Lưu Văn Lợi:

Ta đã xác lập chủ quyền rõ ràng ở Hoàng Sa


Ông Lưu Văn Lợi

TT - Việt Nam đã xác lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa như thế nào và điều gì đã xảy ra từ đầu thế kỷ 20 đến nay dẫn tới tranh chấp về quần đảo này? Phóng viên Tuổi Trẻ gặp nhà ngoại giao kỳ cựu Lưu Văn Lợi để tìm hiểu những dữ liệu lịch sử và pháp lý quốc tế của vấn đề.


Ông Lợi sinh năm 1913, nguyên chánh văn phòng - trợ lý bộ trưởng ngoại giao, nguyên trưởng Ban biên giới thuộc Hội đồng Bộ trưởng (1978-1989). Ông là tác giả của nhiều cuốn sách, bài viết về chủ đề biên giới, lãnh thổ.

* Thưa ông, về mặt lịch sử VN đã xác lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa như thế nào?

- Sau khi vào trấn thủ xứ Thuận Hóa (là địa danh hành chính cũ của vùng đất gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và bắc Đà Nẵng hiện nay) năm 1558, Chúa Nguyễn đầu tiên là Nguyễn Hoàng đã gây dựng và mở mang xứ Thuận Hóa và gọi là miền Trong.

Ông chỉ thị cho các chúa Nguyễn kế vị phải tiến ra biển tìm đất đai mới. Các chúa kế vị đã lập đội Hoàng Sa với 70 suất đội viên và mang sáu tháng lương thực tiến ra phía Đông. Đội phát hiện vô số đảo không có chủ, họ trụ lại đó và gọi là bãi Cát Vàng. Từ đó hằng năm các chúa Nguyễn đều cử đội Hoàng Sa ra bãi Cát Vàng và đổi tên thành Hoàng Sa để làm hai việc.

Thứ nhất, khai thác tài nguyên của quần đảo, bao gồm hải sản và hóa vật của các tàu bị đắm trôi dạt vào quần đảo. Thứ hai, bảo vệ chủ quyền quần đảo. Sau khi được báo cáo về bãi Cát Vàng, quần đảo được nhập vào huyện Bình Sơn thuộc phủ Quảng Ngãi, sau là tỉnh Quảng Ngãi.

Năm 1816, vua Gia Long cử thủy quân và đội Hoàng Sa ra đảo Hoàng Sa kéo cờ và đo đạc thủy trình. Năm 1833, vua Minh Mạng cử đội Hoàng Sa và thủy quân ra xây một miếu, cắm mốc chủ quyền và trồng cây trên đảo để khi cây lớn, tàu thuyền có thể nhận ra đảo từ xa. Như vậy VN đã tổ chức đội Hoàng Sa để xác lập chủ quyền và khai thác quần đảo Hoàng Sa từ nhiều thế kỷ trước.

* Thưa ông, có phải luật pháp quốc tế và nhiều quốc gia đã thừa nhận chủ quyền quần đảo Hoàng Sa thuộc về nước ta?

- Theo luật pháp quốc tế, một quốc gia muốn có danh nghĩa chủ quyền phải có hai thành tố: một, thật sự chiếm đóng (vì thời các nước đi tìm đất mới, có nước tìm ra rồi bỏ hoặc không thật sự đến đó mà chỉ nghe nói); hai, giữ rồi thì phải thật sự thực hiện quyền làm chủ của mình.

Trước đây, Trung Quốc tuy nghe nói đến quần đảo Hoàng Sa từ lâu nhưng chưa hề đến bao giờ, và càng không bao giờ thực hiện chủ quyền gì trên các đảo đó. Trong khi suốt từ các đời chúa Nguyễn về sau, ta tiếp tục quản lý hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và tư liệu mới nhất của ta cho thấy thời vua Bảo Đại, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục quản lý quần đảo Hoàng Sa.

Vua Bảo Đại đã quyết định không để Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Ngãi mà đưa về thuộc tỉnh Thừa Thiên, và năm 1939 quân chủng khố xanh Trung kỳ xây dựng công trình phòng thủ trên đảo Hoàng Sa được vua Bảo Đại tặng thưởng huân chương Long tinh.


Trung Quốc đã xây dựng sân bay (dài 2.700m, rộng 120m) tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa - Ảnh tư liệu
* Chúng ta đã quản lý Hoàng Sa suốt thời gian rất dài như vậy nhưng vì sao lại bị chiếm mất? Quá trình ấy đã diễn ra như thế nào, thưa ông?

- Trong suốt nhiều thế kỷ Trung Quốc chấp nhận sự chiếm hữu của VN và không phản đối hoạt động của đội Hoàng Sa. Thậm chí có những trường hợp quan chức Trung Quốc nói đảo Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc. Thế nhưng đến năm 1909, Trung Quốc cử đô đốc Lý Chuẩn đưa ba pháo thuyền ra Hoàng Sa và đổ bộ lên một đảo kéo cờ, bắn súng và từ đó họ nói là họ có chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa mà họ gọi là Tây Sa.

Năm 1956, khi Pháp rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc cho quân ra chiếm nửa phía đông của Hoàng Sa và năm 1959, Trung Quốc dùng quân đội giả làm ngư dân tiến ra các đảo phía tây của quần đảo Hoàng Sa nhưng âm mưu chiếm phần còn lại thất bại vì quân đội Sài Gòn trên đảo đã kịp thời đối phó và bắt làm tù binh mấy chục “ngư dân” cùng năm thuyền vũ trang.

Năm 1974, lợi dụng tình hình chính quyền Sài Gòn ở miền Nam suy yếu nên Trung Quốc đã ném bom bốn hòn đảo phía tây Hoàng Sa, cho quân đổ bộ lên và chiếm hữu hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa sau cuộc đụng độ với hải quân Sài Gòn. Ở thời điểm này, họ chưa hề đến Trường Sa.

Như vậy với câu hỏi “Ta mất Hoàng Sa như thế nào?”, câu trả lời là vì Trung Quốc dùng vũ trang tấn công. Việc làm của Trung Quốc vi phạm thô bạo bản Tuyên bố ngày 24-10-1970 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc về các nguyên tắc của công pháp quốc tế liên quan đến các quan hệ hữu nghị và sự hợp tác giữa các quốc gia.

"Với biển Đông, VN nên dân tộc hóa và quốc tế hóa vấn đề. Dân tộc hóa nghĩa là tiếp tục làm cho cả dân tộc cùng quan tâm. Quốc tế hóa thì như vừa rồi VN đã gửi công hàm lên Liên Hiệp Quốc bác bỏ bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc"

Ông LƯU VĂN LỢI
(nguyên trưởng Ban biên giới thuộc Hội đồng Bộ trưởng)

* Ông có nhận định gì về “đường lưỡi bò” mà Trung Quốc tuyên bố là biên giới trên biển của họ?

- Từ năm 1948, Trung Quốc chính thức tuyên bố cái gọi là “đường lưỡi bò” gồm chín đoạn cách rời nhau, chạy quanh biển Đông làm biên giới trên biển của họ. Tuyên bố đó không có cơ sở pháp lý gì.

Tháng 6 vừa rồi Trung Quốc gửi bản đồ “đường lưỡi bò” đó lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc với bản giải thích không thể hiểu nổi. Trong đó nêu “Trung Quốc có chủ quyền không ai có thể tranh cãi” đối với các đảo trong biển Đông và “các vùng biển lân cận và có quyền tài phán với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất của những vùng biển này”. Nhưng không nói rõ các vùng biển lân cận, liên quan... cụ thể là vùng biển nào và không nêu cơ sở pháp lý nào.

VN đã gửi công hàm cho Liên Hiệp Quốc bác bỏ cái gọi là đường biên giới biển của Trung Quốc.

Như vậy, cơ sở mạnh nhất của VN là có chủ quyền hoàn toàn đúng pháp luật quốc tế với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là bộ phận chiến lược của lãnh thổ VN nên chúng ta cần kiên quyết đấu tranh để thu hồi hai quần đảo này và giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình.

Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa Đặng Công Ngữ:

Đang ghi lại những câu chuyện có thật về Hoàng Sa

Theo ông Đặng Công Ngữ, chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa (TP Đà Nẵng), ngay sau lễ bổ nhiệm chức danh chủ tịch các quận, huyện (trong đó có huyện Hoàng Sa) do chính quyền TP Đà Nẵng tổ chức ngày 25-4-2009, đến nay huyện đã tiến hành nhiều cuộc gặp mặt, tiếp xúc với những nhân chứng đã từng sống, làm việc tại Hoàng Sa trước năm 1974 (thời điểm Trung Quốc chiếm hoàn toàn Hoàng Sa).

Ngay sau khi báo chí đưa tin việc thành lập huyện Hoàng Sa, nhiều cá nhân từng sống, làm việc ở Hoàng Sa trước đây đã liên lạc với lãnh đạo huyện thông qua Sở Nội vụ Đà Nẵng để cung cấp hình ảnh, hiện vật cho Bảo tàng Hoàng Sa.

Từ con số ban đầu chỉ là năm người vốn là các nhân viên của ngành khí tượng, giờ đây con số nhân chứng Hoàng Sa đã có thêm hơn mười người, phần lớn là lính địa phương quân của chế độ Sài Gòn ra làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa theo định kỳ ba tháng/lần, hiện sống ở khắp nơi trong cả nước từ Đà Nẵng, Hội An, Điện Bàn (Quảng Nam) đến TP.HCM...

Theo ông Ngữ, suốt bốn tháng qua các cán bộ phụ trách huyện này đã tìm gặp họ để ghi lại toàn bộ hình ảnh, âm thanh, đồng thời viết lại những câu chuyện có thật mà các nhân chứng này cung cấp. Tất cả sẽ được đưa vào một cuốn kỷ yếu Hoàng Sa hoàn tất trong nay mai.

Một cán bộ của Sở Nội vụ Đà Nẵng, quản lý phòng trưng bày Bảo tàng Hoàng Sa, nói: “Ngoài 500 thư tịch, hiện vật được sưu tập lâu nay (đang được trưng bày tại phòng trưng bày Bảo tàng Hoàng Sa, 132 Yên Bái, TP Đà Nẵng - PV), chúng tôi đã sưu tầm được khá nhiều hình ảnh, hiện vật khác do các cá nhân trao tặng. Tất cả đều đang được tập trung và sẽ được trưng bày trang trọng tại bảo tàng mới của Hoàng Sa trong thời gian tới”.
 
#18
Hẹ hẹ anh đang uống rượu với cụ Lê cụ Mac mãi tận bên kia miền cực lạc nhưng khi lét mắt thấy tình hình tranh chấp biển đảo dạo này ban căng quá anh vội vác xe đạp chạy về đây ra ý kiến chỉ đạo định hướng tư tưởng cho các bạn.

Xin lỗi các bác cho em chửi bọn tàu khựa phát:"Tung của ăn biển ăn đảo ăn rất bẩn.....,chim bẩn lâu không rửa....."

Vâng thưa các bạn! dã tâm của bọn tàu khựa là luôn luôn tìm mọi cách thôn tính nước ta.lịch sử đã chưng minh rõ rồi và cái dã tâm này nó đã ăn sâu vào tiềm thức của bọn khựa nó luôn được di truyền qua đời này đời khác,vậy nên việc nhẹ nhàng khuyên bảo và luồn cúi nhằm mong bọn khựa chung sống hòa bình với chúng ta là một việc làm quá khó theo anh đây nó còn khó hơn cả việc bắt mấy con bò vinamilk đi bằng 2 chân.Vậy nên "dù rằng đời ta thích hoa hồng,kẻ thù buộc ta ôm cây súng..." đã đến lúc thế hệ trẻ chúng ta cần phải vất bỏ đi những thứ phàm tục hằng ngày (rượu chè cờ bạc,gái gú...)để bước vào một trường chinh chống khựa.Hôm qua anh vừa có cuộc họp với mấy bạn của anh bên bộ chính trị và đã đi đến thống nhất việc đấu tranh chống khựa chúng ta chia làm 3 mặt trận:

1.kinh tế.

Hiện nay trên thị trường hàng hóa tàu khựa tràn ngập,hàng hóa chúng ta phải chịu lép vế trước hàng hóa bọn chúng.vậy nên chúng ta cần phải thay đổi tư duy tiêu dùng.=>người việt nam dùng hàng việt nam =>yêu nước.các bạn phải tìm mọi cách phá hoại nền kinh tế của chúng.bản thân anh thời còn đi du học bên tàu khựa anh luôn có ý thức phá hoại nền kinh tế bọn chúng vd:vào nhà vệ sinh anh luôn xả nước lênh láng,ra phòng học điện anh cứ bật giăng giăng,qoạt cứ mở chạy vivu...ở đây anh muốn nói với các bạn rằng hảy phá hoại nền kinh tế của bọn khựa bằng mọi cách có thể.như bác Hồ đã nói tuổi nhỏ làm việc nhỏ tùy theo sức của mình....

thôi đến giờ anh phải đi ăn trưa hẹn các bạn bữa khác anh viết nốt lĩnh vực chính trị và văn hóa.
 
#19
Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau!

Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau!
Trận hải chiến Hoàng Sa chỉ kéo dài hơn 30 phút, nhưng nỗi đau ấy vẫn làm quặn thắt trái tim chúng tôi dù 35 năm đã trôi qua.

Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau!
(24h) - Cả ngày 17 và 18-1-1974, biển Đông dậy sóng. Phía Trung Quốc tăng cường lực lượng và cố tình khiêu khích, các chiến hạm của họ tiến sâu vào lãnh hải phía tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Đến nửa đêm 18-1, hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 đã ra đến nơi chi viện. Đêm ấy, bầu trời Hoàng Sa tối đen như mực, một đêm cực kỳ căng thẳng.

Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16, tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5 đã có mặt ở đó chuẩn bị tình huống đối phó.

Ông Lữ Công Bảy, người đã có mặt trong cuộc hải chiến Hoàng Sa 35 năm trước trong vai trò là thượng sĩ giám lộ trên chiến hạm HQ-4, tiếp tục thuật lại câu chuyện “Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau” (Tuổi Trẻ ngày 8 và 9-9-2009).

Ngày N+3

Lúc 6g sáng 19-1-1974, khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 đã tiến sát đảo Quang Hòa và trung đội biệt hải được lệnh đổ bộ khẩn cấp lên đảo. Không một tàu chiến nào của Trung Quốc phát hiện được HQ-4 và tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5.

Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau!, Tin tức - Sự kiện,

Sơ đồ các hướng tấn công trận hải chiến Hoàng Sa ngày 19-1-1974

Khi gần đến đảo, bằng ống nhòm và mắt thường từ đài chỉ huy, chúng tôi đã phát hiện doanh trại mới toanh và cột cờ có cờ Trung Quốc (trước đó hơn một tháng, HQ-4 trong một chuyến khảo sát quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam đã không phát hiện gì ngoài chai lọ trôi tấp lên bãi cát). Chúng tôi hiểu rằng quân Trung Quốc đã bí mật chiếm đảo. Hai mươi phút sau, lực lượng biệt hải đổ bộ lên đảo (mặt đông nam). Lực lượng đổ bộ cắm cờ Việt Nam lên bờ cát và hốc đá, rồi khẩn cấp tiến vào bên trong đảo.

Trong khi đó, lực lượng người nhái vẫn còn ngoài xa chưa vào được vì HQ-5 không thể vào sát bờ, gió mùa đông bắc thổi khá mạnh, các xuồng cao su bị sóng gió giật dữ dội không vào bờ được. HQ-5 phải thả tàu cứu hộ xuống để kéo các xuồng cao su vào. Từ đài chỉ huy, bộ phận quan sát chúng tôi đã phát hiện một tàu Trung Quốc đang đổ bộ một đội quân đông đảo lên phía bắc đảo, hàng trăm quân Trung Quốc ồ ạt vào đảo rất nhanh vì xuôi gió.

Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau!, Tin tức - Sự kiện,

Khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4 - một trong bốn tàu tham gia trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974

Thế rồi báo cáo bất lợi dồn dập gửi về đài chỉ huy tàu HQ-4. Một số đông quân Trung Quốc nấp sau các tảng đá chĩa thẳng mũi súng vào đội hình biệt hải. Trên mặt biển lúc ấy, chúng tôi thấy tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 và hộ tống hạm Nhật Tảo HQ-10 đang tiến về rìa tây nam đảo, theo sau là bốn tàu chiến Trung Quốc đang tiến vào đội hình của ta. Tình hình bắt đầu căng thẳng, báo hiệu một trận đụng độ sinh tử không thể nào tránh khỏi. Trong khi đó ở phía bắc đảo, những chiếc tàu đánh cá vũ trang Trung Quốc tiếp tục cho đổ người ồ ạt lên đảo của ta.

Và họ nổ súng trước. Vào lúc 8g30, một loạt đạn đại liên và cối 82 bắn vào đội hình người nhái Việt Nam làm hai binh sĩ tử thương và hai bị thương. Nhưng chỉ huy phía Việt Nam không thể ra lệnh cho các tàu nổ súng vì lực lượng người nhái đang ở vị trí cực kỳ nguy hiểm.

Lệnh nổ súng

* Ngay sau khi Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm toàn bộ các đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa do VN quản lý, ngày 19-1-1974 và 14-2-1974 chính quyền Sài Gòn đã ra tuyên cáo về việc Trung Quốc “xâm lăng trắng trợn bằng quân sự” và tái khẳng định về chủ quyền của VN đối với Hoàng Sa.

* Ngày 20-1-1974, ngoại trưởng chính quyền Sài Gòn cũng đã gọi điện và gửi thư cho chủ tịch Hội đồng Bảo an và tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đề nghị những biện pháp cần thiết trước tình hình khẩn cấp về việc Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm Hoàng sa.

* Trong khi đó, ngày 26-1-1974, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN cũng đã ra tuyên bố phản đối hành động xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc và công bố lập trường “về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” của VN.

* Sau ngày miền Nam giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam VN đã nhiều lần tuyên bố khẳng định Hoàng Sa là của VN. Và ngày 5-6-1976, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa miền Nam VN đã lên tiếng bác bỏ những thông tin xuyên tạc về Hoàng Sa - Trường Sa và khẳng định hai quần đảo này là thuộc chủ quyền VN, từ trước đến nay đều do người VN quản lý.

Lúc đó, sát bên tàu HQ-4 của chúng tôi đã xuất hiện hai tàu chiến Kronstadt của Trung Quốc mang số hiệu 274 và 271 sơn màu xám đen, trang bị đại bác 100 li và nhiều đại bác 37 li. Các họng súng đại bác Trung Quốc đều đang chĩa thẳng vào tàu HQ-4.

Các tín hiệu bằng đèn hiệu được liên tục chuyển đến HQ-4. Chúng tôi nhận những tín hiệu từ tàu Trung Quốc và trình cho hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San. Nghe xong một nội dung cực kỳ khiêu khích từ tàu Trung Quốc, hạm trưởng San tức thì đỏ mặt, quát tháo ầm ĩ. Quay sang chúng tôi, ông ra lệnh không nhận tín hiệu từ tàu Trung Quốc nữa.

Vào thời điểm hết sức căng thẳng này, khi trận chiến sắp nổ ra, việc thông tin liên lạc giữa lực lượng bảo vệ Hoàng Sa và Bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải thường xuyên bị đứt. Tần số liên lạc bị phá rối, trên hệ thống bộ đàm chỉ nghe toàn tiếng Hoa. Đại tá Hà Văn Ngạc, lúc đó đang ở trên chiến hạm HQ-5, được giao toàn quyền hành động (lệnh khai hỏa đã được truyền đi từ Bộ tư lệnh hải quân vùng 1 duyên hải trước đó. Nhưng một hồi lâu sau, quyết định nổ súng mới được thực hiện sau cuộc điện đàm giữa đại tá Ngạc và tư lệnh hải quân vùng 1 Hồ Văn Kỳ Thoại - B.T.).

Đại tá Ngạc ra lệnh: Tất cả đại bác đều phải hướng lên đảo. Khi nhận lệnh bắn thì tất cả khai hỏa lên đảo, dọn đường lập đầu cầu để biệt hải và người nhái đổ bộ tái chiếm đảo. Đó là lệnh từ soái hạm chỉ huy HQ-5. Nhưng hạm trưởng Vũ Hữu San đã bực bội trước lệnh này. Trước khi chuẩn bị nổ súng, đại tá Hà Văn Ngạc có hỏi ý kiến từng hạm trưởng.

Đến khi hỏi ý kiến HQ-4, hạm trưởng Vũ Hữu San gằn từng tiếng trong bộ đàm: “Trình đại bàng, tôi là quân nhân, tôi chấp hành quân lệnh nhưng hiện nay nước cờ đã bị lộ, không còn yếu tố bất ngờ, muốn đổ bộ lên chiếm đảo trước mắt phải tiêu diệt lực lượng trên biển trước khi tính đến việc đổ quân, hiện nay số tàu địch gấp đôi tàu ta, quân địch đã đổ bộ từ sáng đến giờ đầy trên đảo, ta chỉ có hai trung đội thì làm sao thành công được?”. Rồi hạm trưởng San nói tiếp: “Tôi là quân nhân, tôi chấp nhận hi sinh vì Tổ quốc, nhưng...”.

Ông cúp máy và ra lệnh: “Tất cả khẩu súng nhắm thẳng vào tàu địch!”.

Quyết liệt

Đúng 10g20, bốn chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-10, HQ-16 đồng loạt khai hỏa. Như đã chuẩn bị trước, hạm trưởng Vũ Hữu San ra lệnh “bắn”. Chiến hạm di chuyển với tốc độ cực nhanh, khói đen bốc lên ngùn ngụt, thân tàu rung lên bần bật vì trúng đạn, vì tiếng dội của các khẩu đại bác vừa khai hỏa.

Chiến hạm HQ-4 chạy uốn lượn như con rắn, hết sang phải lại sang trái nên đã tránh được loạt đạn đại bác của đối phương. Thế rồi các cột nước bùng lên, đạn rít xung quanh tàu vèo vèo. Một mảnh đạn phạt lủng đài chỉ huy, văng ra trúng chân trung úy Roa đang cố gắng theo dõi tàu Trung Quốc qua màn hình rađa. Thượng sĩ nhất giám lộ Ry trúng mảnh đạn nơi cánh tay trái. Hạ sĩ giám lộ Phấn, xạ thủ đại liên 30 trên nóc đài chỉ huy, bị thương nơi ngực, máu thấm đỏ cả áo. Tiếng la ơi ới của các anh em bị thương vọng lên đài chỉ huy.

Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau!, Tin tức - Sự kiện,

Tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ-5

Tuy nhiên, chiến hạm HQ-4 vẫn vững vàng trong cuộc hải chiến. Đài quan sát trên nóc báo cáo có tàu Trung Quốc đang đuổi theo. Tôi nhìn ra phía sau vừa thấy hai tàu chiến Trung Quốc. Liền lúc đó từ mạn phải HQ-5 cắt đuôi HQ-4 rồi phóng thẳng vào hai tàu đối phương. Những khối cầu lửa từ mũi HQ-5 bắn ra (đại bác 127 li) bay thẳng vào tàu Trung Quốc. Một chiếc trúng đạn bốc cháy, một chiếc quay ngang và sau đó lãnh đủ hàng loạt đạn từ HQ-4.

Nhưng ngay lúc đó, thông tin từ HQ-5 cho biết ụ tháp đại bác 127 li của tàu này đã bị trúng đạn, ba quân nhân tử thương, hai bị thương nặng. HQ-4 vòng lại yểm trợ HQ-5. Không thấy tàu HQ-16 và HQ-10 đâu cả. Liên lạc mãi với hai tàu này vẫn không được.

Thật ra lúc ấy tàu HQ-10 đã bị thương nặng. Tàu này nhỏ, cũ kỹ, các khẩu đại bác xoay trở bằng tay nên bị trúng liền hai quả 100 li từ tàu Trung Quốc. Trong bộ đàm tôi đã nghe tiếng bạn tôi, trung sĩ nhất giám lộ Vương Thương, báo cáo: HQ-10 đã bị trúng đạn, hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử thương, hạm phó Thành Trí trọng thương ngay bụng. Hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ trên đài chỉ huy đều bị tử thương và bị thương rất nặng.

HQ-4 và HQ-5 quay đầu về hướng nam. Sau đó một giờ không còn thấy HQ-5 ở đâu. HQ-5 do máy yếu và một máy bị sự cố chưa kịp khắc phục nên “rớt” lại đâu đó. Trên biển HQ-4 trở nên lẻ loi một mình. Đó cũng là lúc hải quân Trung Quốc tung xuống một lực lượng rất mạnh từ đảo Phú Lâm gần đó và từ căn cứ ở đảo Hải Nam. Trước tình hình đó, để bảo toàn lực lượng, hạm trưởng Vũ Hữu San đã vẽ một đường trực chỉ về Đà Nẵng.

Lúc này tôi mới rời được đài chỉ huy. Trên đường xuống nơi nghỉ ngơi, tôi đã chứng kiến một cảnh tượng kinh khủng sau chiến trận. Hành lang dưới tàu tanh đến ngộp thở: mùi máu, mùi cồn, bông băng... Hơn 130 binh sĩ bám chặt vị trí chiến đấu giờ đều mệt lả, nằm đâu ngủ đó. Họ chỉ cầm hơi bằng mì gói, nước ngọt và lương khô. Các binh sĩ biệt hải kiệt sức nằm rải rác trên hành lang phòng ăn.

Nỗi đau còn lại

Khoảng 16g30, tôi đang trong giấc ngủ sâu vì đã mấy hôm không chợp mắt thì còi tập họp vang lên. Tất cả thủy thủ đoàn tập họp đầy đủ nghe thông báo: “Tất cả chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, tàu được lệnh quay lại Hoàng Sa. Nếu cần sẽ ủi thẳng lên bờ đảo Hoàng Sa, chiến đấu đến cùng để giữ đảo”. Nhìn sau lái tàu, tôi biết tàu đang quay lại và hướng thẳng về Hoàng Sa. Tất cả đều bất động, không ai nói với ai một lời nào trước giờ phút cảm tử này.

Tôi vào phòng hải đồ phía sau đài chỉ huy mệt lả và thiếp đi, đến khi thức dậy trời tối hẳn, trung sĩ nhất giám lộ Khiết cho biết tàu đang quay đầu về Đà Nẵng. Anh nói hạm trưởng San báo cáo thẳng với tư lệnh hải quân là HQ-4 không còn khả năng chiến đấu, lương thực cạn, cơ số đạn không còn đủ để tác chiến, các khẩu đại bác đều có trục trặc... Lệnh từ đất liền: các tàu quay về, hủy bỏ lệnh tấn công tái chiếm Hoàng Sa.

5g30 sáng 20-1 HQ-4 về đến cảng Tiên Sa, 9g tàu HQ-5 tiến vào vịnh Đà Nẵng. Lúc 12g30, tàu HQ-16 bị thương nặng, từ từ tiến vào vịnh với sự trợ giúp của hai tàu lai dắt biển.

Tối hôm đó, 20-1-1974, cũng là đêm 30 tết âm lịch, anh em chúng tôi được dự buổi liên hoan tất niên cuối năm theo truyền thống. Giữa mâm cao cỗ đầy nhưng ai nấy đều buồn bã, không thiết gì đến ăn uống. Mọi người vẫn hết sức lo lắng cho số phận đồng đội đang trôi giạt trên sóng biển giữa ngày tết thế này, lo lắng cho số phận anh em mắc kẹt lại các đảo. Ai cũng hồi tưởng trận hải chiến hôm qua và đau đớn trước một điều: dù đã cố gắng hết sức vẫn không giữ được mảnh đất thiêng liêng mà tổ tiên để lại.

Trận hải chiến Hoàng Sa chỉ kéo dài hơn 30 phút, nhưng nỗi đau ấy vẫn làm quặn thắt trái tim chúng tôi dù 35 năm đã trôi khi.
Tác giả: Lữ Công Bảy ( đăng ngày 14/9/2009 trên tuổi trẻ online.com)
 
#20
LÀ con dân nước việt, hỡi những nam thanh nữ tú hãy ra sức học tập và công hiến để làm giàu cho bản thân và làm cho đất nước ta giàu mạnh. Không thụ động, trì trệ và thỏa mãn nữa. Mỗi chúng ta hãy làm những việc nhỏ nhất để góp những việc lơn của đất nước. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chúng ta quyết giữ từng tấc đất của cha ông và kêu gọi sự ủng hộ của dư luận thế giới. Chân lí bao giờ cũng chiến thắng hung tàn và bạo ngược