• Các thành viên chú ý, NHT trở lại vẫn giữ những thông tin cũ, bao gồm username và mật khẩu. Vì vậy mong mọi người sử dụng nick name(hoặc email) và mật khẩu cũ để đăng nhập nhé. Nếu quên mật khẩu hãy vào đây Hướng dẫn lấy lại mật khẩu. Nếu cần yêu cầu trợ giúp, xin liên hệ qua facebook: Le Tuan, Trân trọng!

Tổng quan về điều kiện tự nhiên Hà Tĩnh

Bomevidai ©

*Ông_Già_Lọ_Khọ*
#1
Vị trí địa lý

Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, có toạ độ địa lý từ 17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106o30'20'' kinh độ Đông.

Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

Hà Tĩnh có Thị xã Hà Tĩnh, Thị xã Hồng Lĩnh và 9 huyện: Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (trong đó có 4 huyện và 1 thị xã miền núi); có 261 xã, phường, thị trấn (241 xã, 8 phường, 12 thị trấn). 7 huyện, thị dọc Quốc lộ 1A; 3 huyện dọc theo đường Hồ Chí Minh và 4 huyện có tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua. Theo trục Đông - Tây, Hà Tĩnh có Quốc lộ 8, Quốc lộ 12 qua Lào, Thái Lan...

Diện tích đất tự nhiên 6.019 km2, dân số 1.289.058 người (năm 2005), có 127 km đường Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ Chí Minh và 70km đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theo hướng Bắc Nam, có đường Quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85 km, Quốc lộ 12 dài 55 km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan.

Ngoài ra Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển kinh tế xã hội.


Đặc điểm địa hình

Hà Tĩnh nằm phía Đông dãy Trường Sơn có địa hình hẹp và dốc nghiêng dần từ Tây sang Đông.



Địa hình đồi núi chiếm gần 80% diện tích tự nhiên, đồng bằng có diện tích nhỏ, bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối, có 4 dạng địa hình sau:
+ Núi trung bình uốn nếp khối nâng lên mạnh: Kiểu địa hình này tạo thành một dãy hẹp nằm dọc theo biên giới Việt Lào, bao gồm các núi cao từ 1000 m trở lên, trong đó có một vài đỉnh cao trên 2000 m như Pulaleng (2711 m), Rào cỏ (2.335 m).

+ Núi thấp uốn nếp nâng lên yếu: Kiểu địa hình này chiếm phần lớn diện tích của tỉnh có độ cao dưới 1000 m, cấu trúc địa chất tương đối phức tạp.

+ Thung lũng kiến tạo - xâm thực: Kiểu địa hình này chiếm một phần diện tích nhỏ nhưng có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Độ cao chủ yếu dưới 300 m, bao gồm các thung lũng sông Ngàn Sâu, nằm theo hướng song song với các dãy núi, cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích vụn bở, dễ bị xâm thực.

+ Vùng đồng bằng Hà Tĩnh nằm dọc theo ven biển với có địa hình trung bình trên dưới 3m, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núi phía Tây, càng về phía Nam càng hẹp. Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng nhất là vùng hình thành bởi phù sa các sông suối lớn trong tỉnh, đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nhẹ.

Các loại địa hình này đã tạo cho Hà Tĩnh nhiều cảnh quan du lịch có giá trị.


Đặc điểm khí hậu

Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh.



Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa rõ rệt 1 mùa lạnh và 1 mùa nóng.
Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao. Nhiệt độ không khí vào mùa đông chênh lệch thấp hơn mùa hè. Nhiệt độ đất bình quân mùa đông thường từ 18-22oC, ở mùa hè bình quân nhiệt độ đất từ 25,5 – 33oC. Tuy nhiên nhiệt độ đất thường thay đổi theo loại đất, màu sắc đất, độ che phủ và độ ẩm của đất.

Hà Tĩnh là tỉnh có lượng mưa nhiều ở miền Bắc Việt Nam, trừ một phần nhỏ ở phía Bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2000 mm, cá biệt có nơi trên 3000 mm.

Sông, hồ, biển và bờ biển

Sông ngòi nhiều nhưng ngắn. Dài nhất là sông Ngàn Sâu 131 km, ngắn nhất là sông Cày 9 km; sông Cả đoạn qua Hà Tĩnh giáp Nghệ An cũng chỉ có 37 km.



Sông ngòi Hà Tĩnh có thể chia làm 3 hệ thống:

- Hệ thống sông Ngàn Sâu: có lưu vực rộng 2.061 km2; có nhiều nhánh sông bé như sông Tiêm, Rào Trổ, Ngàn Trươi.

- Hệ thống sông Ngàn Phố: dài 86 km, lưu vực 1.065 km2, nhận nước từ Hương Sơn cùng với Ngàn Sâu đổ ra sông La dài 21 km, sau đó hợp với sông Lam chảy ra Cửa Hội.

- Hệ thống cửa sông và cửa lạch ven biển có: nhóm Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu.

Các hồ đập chứa trên 600 triệu m3 nước, cùng với hệ thống Trạm bơm Linh Cảm, hệ thống Sông La, Ngàn Sâu, Ngàn Phố thì lượng nước phục vụ cho sinh hoạt, công nghiệp và tưới cho cây trồng ở Hà Tĩnh là khá lớn.


Biển, bờ biển:



Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km. Do chế độ thuỷ triều, độ sâu, địa mạo, địa hình, đường đẳng sâu đáy biển, gió mùa Đông Bắc... nên vùng biển này có đầy đủ thực vật phù du của Vịnh Bắc Bộ (có 193 loài tảo) và lượng phù sa của vùng sông Hồng, sông Cả, sông


Mã tạo ra nhiều nguồn thức ăn cho các loại hải sản sinh sống, cư trú. Trữ lượng cá 8 - 9 vạn tấn/năm; tôm, mực, moi... 7 - 8 ngàn tấn/năm nhưng mới khai thác được 20 - 30%.

Biển Hà Tĩnh có 267 loài cá thuộc 97 họ trong đó 60 loài có giá trị kinh tế cao, có 27 loài tôm; vùng ven biển rất thuận lợi cho việc sản xuất muối và nuôi tôm, cua, ốc, nghêu, hàu...

Vùng biển Hà Tĩnh luôn có hai dòng hải lưu nóng ấm, mát lạnh chảy ngược, hoà trộn vào nhau. Một dòng cách ven bờ khoảng 30 - 40km, dòng khác ở ngoài và sâu hơn. Vùng có hai khối nước hỗn hợp pha trộn thường nằm ở độ sâu 20 - 30m, vùng này cá thường tập trung sinh sống. Nhiệt độ nước bề mặt cũng thay đổi theo mùa, nhiệt độ cực đại vào tháng 7, tháng 8 có giá trị tuyệt đối khoảng 30 - 31oC và cực tiểu vào tháng 12 đến tháng 3 khoảng 18 - 220C, nhiệt độ nước cũng tăng dần lên theo hướng Nam và Đông Nam.

Độ mặn nước biển (tầng mặt, tầng đáy) dao động từ 5 - 7% tuỳ thuộc vào lượng mưa, thời tiết các tháng trong năm. Đặc biệt, với khối nước ven bờ thì độ mặn biến thiên rất lớn về mùa mưa. Hàm lượng muối dinh dưỡng Phốt phát từ 5 - 12 mg/m3 và Silic từ 90mg/m3, tuy có nghèo hơn phía Bắc vùng vịnh nhưng nhờ nhiệt độ cao hơn quanh năm và lượng ô-xy hoà tan phong phú nên chu trình chuyển hoá của muối dinh dưỡng hữu cơ sang vô cơ xảy ra trong thời gian ngắn hơn.

- Hải đảo: Cách bờ biển Nghi Xuân 4km có hòn Nồm, hòn Lạp; ngoài khơi Cửa Nhượng có hòn Én (cách bờ 5km), hòn Bơớc (cách bờ 2km); ở nam Kỳ Anh cách bờ biển 4km có hòn Sơn Dương độ cao 123m, xa hơn phía Đông có hòn Chim nhấp nhô trên mặt nước.



( Sở Tài nguyên Môi trường )
 

ht_mktt_2005

Trai tơ mới lớn!
#2
Vị trí địa lý

Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, có toạ độ địa lý từ 17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106o30'20'' kinh độ Đông.

Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

Hà Tĩnh có Thị xã Hà Tĩnh, Thị xã Hồng Lĩnh và 9 huyện: Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (trong đó có 4 huyện và 1 thị xã miền núi); có 261 xã, phường, thị trấn (241 xã, 8 phường, 12 thị trấn). 7 huyện, thị dọc Quốc lộ 1A; 3 huyện dọc theo đường Hồ Chí Minh và 4 huyện có tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua. Theo trục Đông - Tây, Hà Tĩnh có Quốc lộ 8, Quốc lộ 12 qua Lào, Thái Lan...

Diện tích đất tự nhiên 6.019 km2, dân số 1.289.058 người (năm 2005), có 127 km đường Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ Chí Minh và 70km đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theo hướng Bắc Nam, có đường Quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85 km, Quốc lộ 12 dài 55 km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan.

Ngoài ra Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển kinh tế xã hội.


Đặc điểm địa hình

Hà Tĩnh nằm phía Đông dãy Trường Sơn có địa hình hẹp và dốc nghiêng dần từ Tây sang Đông.



Địa hình đồi núi chiếm gần 80% diện tích tự nhiên, đồng bằng có diện tích nhỏ, bị chia cắt bởi các dãy núi, sông suối, có 4 dạng địa hình sau:
+ Núi trung bình uốn nếp khối nâng lên mạnh: Kiểu địa hình này tạo thành một dãy hẹp nằm dọc theo biên giới Việt Lào, bao gồm các núi cao từ 1000 m trở lên, trong đó có một vài đỉnh cao trên 2000 m như Pulaleng (2711 m), Rào cỏ (2.335 m).

+ Núi thấp uốn nếp nâng lên yếu: Kiểu địa hình này chiếm phần lớn diện tích của tỉnh có độ cao dưới 1000 m, cấu trúc địa chất tương đối phức tạp.

+ Thung lũng kiến tạo - xâm thực: Kiểu địa hình này chiếm một phần diện tích nhỏ nhưng có nhiều thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Độ cao chủ yếu dưới 300 m, bao gồm các thung lũng sông Ngàn Sâu, nằm theo hướng song song với các dãy núi, cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích vụn bở, dễ bị xâm thực.

+ Vùng đồng bằng Hà Tĩnh nằm dọc theo ven biển với có địa hình trung bình trên dưới 3m, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núi phía Tây, càng về phía Nam càng hẹp. Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng nhất là vùng hình thành bởi phù sa các sông suối lớn trong tỉnh, đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nhẹ.

Các loại địa hình này đã tạo cho Hà Tĩnh nhiều cảnh quan du lịch có giá trị.


Đặc điểm khí hậu

Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh.



Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa rõ rệt 1 mùa lạnh và 1 mùa nóng.
Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao. Nhiệt độ không khí vào mùa đông chênh lệch thấp hơn mùa hè. Nhiệt độ đất bình quân mùa đông thường từ 18-22oC, ở mùa hè bình quân nhiệt độ đất từ 25,5 – 33oC. Tuy nhiên nhiệt độ đất thường thay đổi theo loại đất, màu sắc đất, độ che phủ và độ ẩm của đất.

Hà Tĩnh là tỉnh có lượng mưa nhiều ở miền Bắc Việt Nam, trừ một phần nhỏ ở phía Bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2000 mm, cá biệt có nơi trên 3000 mm.

Sông, hồ, biển và bờ biển

Sông ngòi nhiều nhưng ngắn. Dài nhất là sông Ngàn Sâu 131 km, ngắn nhất là sông Cày 9 km; sông Cả đoạn qua Hà Tĩnh giáp Nghệ An cũng chỉ có 37 km.



Sông ngòi Hà Tĩnh có thể chia làm 3 hệ thống:

- Hệ thống sông Ngàn Sâu: có lưu vực rộng 2.061 km2; có nhiều nhánh sông bé như sông Tiêm, Rào Trổ, Ngàn Trươi.

- Hệ thống sông Ngàn Phố: dài 86 km, lưu vực 1.065 km2, nhận nước từ Hương Sơn cùng với Ngàn Sâu đổ ra sông La dài 21 km, sau đó hợp với sông Lam chảy ra Cửa Hội.

- Hệ thống cửa sông và cửa lạch ven biển có: nhóm Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu.

Các hồ đập chứa trên 600 triệu m3 nước, cùng với hệ thống Trạm bơm Linh Cảm, hệ thống Sông La, Ngàn Sâu, Ngàn Phố thì lượng nước phục vụ cho sinh hoạt, công nghiệp và tưới cho cây trồng ở Hà Tĩnh là khá lớn.


Biển, bờ biển:



Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km. Do chế độ thuỷ triều, độ sâu, địa mạo, địa hình, đường đẳng sâu đáy biển, gió mùa Đông Bắc... nên vùng biển này có đầy đủ thực vật phù du của Vịnh Bắc Bộ (có 193 loài tảo) và lượng phù sa của vùng sông Hồng, sông Cả, sông


Mã tạo ra nhiều nguồn thức ăn cho các loại hải sản sinh sống, cư trú. Trữ lượng cá 8 - 9 vạn tấn/năm; tôm, mực, moi... 7 - 8 ngàn tấn/năm nhưng mới khai thác được 20 - 30%.

Biển Hà Tĩnh có 267 loài cá thuộc 97 họ trong đó 60 loài có giá trị kinh tế cao, có 27 loài tôm; vùng ven biển rất thuận lợi cho việc sản xuất muối và nuôi tôm, cua, ốc, nghêu, hàu...

Vùng biển Hà Tĩnh luôn có hai dòng hải lưu nóng ấm, mát lạnh chảy ngược, hoà trộn vào nhau. Một dòng cách ven bờ khoảng 30 - 40km, dòng khác ở ngoài và sâu hơn. Vùng có hai khối nước hỗn hợp pha trộn thường nằm ở độ sâu 20 - 30m, vùng này cá thường tập trung sinh sống. Nhiệt độ nước bề mặt cũng thay đổi theo mùa, nhiệt độ cực đại vào tháng 7, tháng 8 có giá trị tuyệt đối khoảng 30 - 31oC và cực tiểu vào tháng 12 đến tháng 3 khoảng 18 - 220C, nhiệt độ nước cũng tăng dần lên theo hướng Nam và Đông Nam.

Độ mặn nước biển (tầng mặt, tầng đáy) dao động từ 5 - 7% tuỳ thuộc vào lượng mưa, thời tiết các tháng trong năm. Đặc biệt, với khối nước ven bờ thì độ mặn biến thiên rất lớn về mùa mưa. Hàm lượng muối dinh dưỡng Phốt phát từ 5 - 12 mg/m3 và Silic từ 90mg/m3, tuy có nghèo hơn phía Bắc vùng vịnh nhưng nhờ nhiệt độ cao hơn quanh năm và lượng ô-xy hoà tan phong phú nên chu trình chuyển hoá của muối dinh dưỡng hữu cơ sang vô cơ xảy ra trong thời gian ngắn hơn.

- Hải đảo: Cách bờ biển Nghi Xuân 4km có hòn Nồm, hòn Lạp; ngoài khơi Cửa Nhượng có hòn Én (cách bờ 5km), hòn Bơớc (cách bờ 2km); ở nam Kỳ Anh cách bờ biển 4km có hòn Sơn Dương độ cao 123m, xa hơn phía Đông có hòn Chim nhấp nhô trên mặt nước.



( Sở Tài nguyên Môi trường )
Bạn có bài đăng rất hay, tuy nhiên mình xin góp ý với bạn 1 vài điểm sau:
1) Cách đây 2 năm đã có 1 huyện mới được thành lập: huyện Lộc Hà - được tách ra từ Thạch Hà & Can Lộc.... nằm phía Đông TP Hà Tĩnh.....
2) Thị xã Hà Tĩnh bây giờ là Thành Phố Hà Tĩnh chứ không phải la Thị Xã nữa....
chúc bạn có nhiều bài viết hay hơn....! chào!
 

Bebycoi

Bebycoi!
#3
Vị trí địa lý tỉnh Hà Tĩnh!

Vị trí địa lý

Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung bộ, có toạ độ địa lý từ 17053'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106o30'20'' kinh độ Đông.
Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp Quảng Bình, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp với nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.
Hà Tĩnh có TP Hà Tĩnh, Thị xã Hồng Lĩnh và 10 huyện: Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Can Lộc, Thạch Hà, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh (trong đó có 4 huyện và 1 thị xã miền núi); có 261 xã, phường, thị trấn (241 xã, 8 phường, 13 thị trấn). 8 huyện, thị dọc Quốc lộ 1A; 3 huyện dọc theo đường Hồ Chí Minh và 4 huyện có tuyến đường sắt Bắc - Nam đi qua. Theo trục Đông - Tây, Hà Tĩnh có Quốc lộ 8, Quốc lộ 12 qua Lào, Thái Lan...
Diện tích đất tự nhiên 6.019 km2, dân số khoảng 1.359.058 người (năm 2005), có 127 km đường Quốc lộ 1A, 87 km đường Hồ Chí Minh và 70km đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theo hướng Bắc Nam, có đường Quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85 km, Quốc lộ 12 dài 55 km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan.
Ngoài ra Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển có nhiều cảng và cửa sông lớn cùng với hệ thống đường giao thông khá tốt, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá phát triển kinh tế xã hội.

(Sở Tài nguyên và Môi trường)
 

Bebycoi

Bebycoi!
#4
Đặc điểm khí hậu

Đặc điểm khí hậu

Hà Tĩnh nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa rõ rệt 1 mùa lạnh và 1 mùa nóng.
Nhiệt độ bình quân ở Hà Tĩnh thường cao. Nhiệt độ không khí vào mùa đông chênh lệch thấp hơn mùa hè. Nhiệt độ đất bình quân mùa đông thường từ 18-22oC, ở mùa hè bình quân nhiệt độ đất từ 25,5 – 33oC. Tuy nhiên nhiệt độ đất thường thay đổi theo loại đất, màu sắc đất, độ che phủ và độ ẩm của đất.
Hà Tĩnh là tỉnh có lượng mưa nhiều ở miền Bắc Việt Nam, trừ một phần nhỏ ở phía Bắc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2000 mm, cá biệt có nơi trên 3000 mm.

Sở Tài nguyên Môi trường./.
 

Bebycoi

Bebycoi!
#5
NÚI THIÊN NHẪN
Thiên Nhẫn là tên một dãy núi nằm giáp ranh giữa các huyện Hương Sơn, Đức Thọ của tỉnh Hà Tĩnh với huyện Thanh Chương và Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Trong cuộc kháng chiến chống quân nhà Minh thế kỷ 15, sau khi rút quân vào vùng này, Lê Lợi đã xây dựng trên núi Thiên Nhẫn một thành đá chạy dài hàng trăm mét gọi là thành Lục Niên. Dấu vết còn lại của thành Lục Niên hiện nay là một dãy đá được xếp dựng đứng trên đỉnh núi. Sau cuộc kháng chiến thành công nhân dân Sơn Tân đã xây dựng một đền thờ các vị anh hùng dân tộc ngay bên bờ sông Ngàn Phố gọi là đền Trúc. Năm 2004, đền Trúc đã được bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia
 

Bebycoi

Bebycoi!
#6
Núi Thiên Nhẫn

Cứ mỗi độ xuân về nhất là vào tiết thanh minh đất trông sáng du khách có thể đứng ở bờ Nam bến nước Tam Soa hoặc km số 0 của Đê La Giang phóng tầm mắt về hướng Tây Bắc sẽ thấy một dãy núi trùng điệp như muôn ngàn con Chiến Mã đang phi nước đại về phương nam có dãy núi Thiên Nhẫn .

Ngày xưa các tao nhân, mặc khách mỗi lần về thăm núi Thiên Nhẫn, trước vẻ đẹp của núi, của sông ai cũng tò mò muốn lý giải vì sao cổ nhân lại đặt tên cho dãy núi này hai chữ “Thiên Nhẫn”. Người thì cho hai chữ Thiên Nhẫn xuất phát từ độ cao của núi hơn nghìn thước. Người thì dựa vào thế núi điệp trùng đứng xa trông giống như một hình lưỡi cưa muốn cưa đôi bầu trời nên gọi là Thiên Nhẫn. Nhân dân các xã ven chân núi như xã Nam Kim (Nam Đàn), xã Trường Sơn, Tùng ảnh (Đức Thọ ), xã Sơn tân (Hương Sơn) dựa vào truyền thuyết núi có 999 đỉnh mà đặt tên cho núi là “Rú Nghìn” tức Thiên Nhẫn. Theo các tài liệu khoa học, dãy núi Thiên Nhẫn được hình thành vào khoảng Đại Tân Sinh cùng một lúc với đới Hoành Sơn và Trà Sơn. Núi trải dài trên địa phận 4 huyện thuộc 2 tĩnh Nghệ An, Hà Tĩnh bao gồm: Thanh Chương, Nam đàn, Đức Thọ và Hương Sơn .

Núi khởi đầu từ làng Bích Triều (huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An) chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và kết thúc ở chân núi chùa (còn gọi là cụm núi Việt Sơn) cao hơn 50m đứng ở sát bến nước Tam Soa, ba phía là ba ngôi làng nỗi tiếng nhất vùng Tùng Lĩnh – La Giang đó là làng Đậu Xá và Tân Sơn huỵên Hương Sơn ở phía Tây Bắc, làng Vĩnh Khánh xã Trường Sơn ở phía Đông và làng Tùng ảnh (còn gọi là Việt yên Hạ) thuộc huyện Đức Thọ ở phía Đông Nam. Tương truyền trong số hàng nghìn đỉnh núi có độ dài bình quân từ 150 – 200mét, vọt lên ba đỉnh núi cao nhất mà nhân dân địa phương gọi là “Tam Thai”gồm đỉnh Động Bút cao 240mét, đỉnh Động Trọ Voi cao 253 mét và đỉnh động Thiên Nhẫn cao 254 mét, trong ba đỉnh nói trên thì đỉnh Động TrọVoi là ngọn động chủ có địa hình khá hiểm trở phía Đông và Đông Nam có bờ đá dựng đứng hơn 20m khe nước trong lòng núi chảy qua bờ đá tạo nên một thác nước tuyệt đẹp như một tấm lụa bạch .Ngoài ra núi Thiên Nhẫn còn có nhiều địa danh đẹp nỗi tiếng như khe Tằm chảy từ ngọn Việt Sơn nước trong mát quanh năm nhân dân địa phương quen gọi là khe Tây vì người Pháp ngày xưa đóng đồn mãi ở tận núi Thành Nghệ An, vẫn cho người đến lấy nước về để uống. Đặc biệt là do núi Thiên Nhẫn điệp trùng như bức tường thành cho nên cha ông ta ngày xưa đều lấy núi Thiên Nhẫn làm căn cứ chống giặc ngoại xâm. Một lần đứng trước thế hiểm của núi của sông học giả Bùi Dương Lịch đã có bài thơ vịnh xin tạm dịch như sau:

Đất nối ba sông hiểm
Núi như muôn ngựa phi
Chương – Hương chia hai ngã
Lam - Phố hợp ba chi
Hoan - Đức khoe hùng trấn
Trà – Cao vững biên thủy
Việc bình ngô thuở ấy
Cơ nghiệp dựng từ đây.

Theo sách: “Khởi nghĩa Lam Sơn” do giáo sư Phan Huy Lê biên soạn và cuốn “Lịch sử Nghệ Tĩnh Tập1” xuất bản năm 1984 có đọan ghi : “Năm 1424 theo kế hoạch của tướng Nguyễn Chích, Bình Định Vương. Lê Lợi cùng toàn bộ nghĩa quân Lam Sơn đã rời căn cứ cũ tại miền rừng núi phía Tây tỉnh Thanh Hóa vào giải phóng 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh để làm nơi đứng chân nhằm xây dựng lực lượng, tích trữ lương thảo, luyện tập quân sỹ chờ thời cơ mở cuộc tiến công giải phóng đất nước. Trong chiến dịch này sau chiến thắng tại miền Trà Lân diệt gần 3.000 tên giặc Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đã hành quân thần tốc về xây dựng căn cứ tại động Liên Hoa (tức xã Sơn Phúc - huỵên Hương Sơn ngày nay), tiếp theo tháng 2 năm 1425 Lê Lợi cho xây dựng thành Lục Niên ở sườn Bắc Ngọn Trọ Voi trên núi Thiên Nhẫn dời đại bản doanh về đó để tiện cho việc chỉ huy nghĩa quân vây hãm và tiêu diệt toàn bộ quân Minh ở thành Nghệ An mở đầu cho thời kỳ tiến công quy mô lớn giải phóng hoàn toàn bờ cõi

Trong 3 thế kỷ 17 -18 và 19 Thiên Nhẫn còn được các danh sỹ đương thời vì chán thế sự nhiễu nhương chọn làm nơi mai danh ẩn tích mà tiêu biểu trong số đó là La Sơn phu Tử Nguyễn Thiếp. Ngay từ khi còn giữ chức huấn đạo tại Anh Đô (huỵên Anh Sơn tỉnh Nghệ An ngày nay) Nguyễn Thiếp đã cho xây dựng sơn trại tại sườn phía Bắc ngọn núi có tên là Bùi Phong Chính. Cho đến năm 1759 hoàn thành, ông liền xin từ quan rồi đưa vợ con, gia quyến lên sống cảnh thanh bần nhưng lạc đạo trên núi Thiên Nhẫn. Nguyễn Thiếp còn cho xây dựng “Vọng Vân Đình” trước cửa sơn trại để ngắm mây trời và cảnh đẹp thiên nhiên sông nước.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước để tránh con mắt xoi mói của máy bay Mỹ quân và dân ta đã xây dựng tuyến đường 15A (còn gọi là đường mòn Hồ Chí Minh) dọc theo chân núi Thiên Nhẫn và suốt trong 8 năm chống chiến tranh phá hoại giặc Mỹ đường 15A trở thành một huyết mạch giao thông quan trọng ngày đêm rầm rập xe và người ra mặt trận.

Ngày nay được hỗ trợ nguồn vốn của Tỉnh và TW, huyện Đức Thọ đang triển khai xây dựng nhiều công trình giao thông quan trọng như: nhựa hóa đường QL 15A, đường Thị Trấn – Liên Minh – Tùng Châu và trùng tu một số di tích lịch sử nhằm biến núi Thiên Nhẫn - Bến Tam Soa thành một khu kinh tế du lịch trong tương lai./.
 
#7
Những điều cần biết về quê hương Hà Tĩnh

Hà Tĩnh là một tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam

1.Vị trí
Hà Tĩnh trải dài từ 17°54’ đến 18°50’ vĩ Bắc và từ 103°48’ đến 108°00’ kinh Đông. Phía bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía tây giáp nước Lào, phía đông giáp biển Đông.

2. Địa hình
Hà Tĩnh cách Hà Nội 340 km, ở phía đông dãy Trường Sơn với địa hình hẹp, dốc và nghiêng từ tây sang đông. Phía tây tỉnh là những dãy núi cao 1.500 m, đỉnh Rào Cọ 2.235 m, phía dưới là vùng đồi thấp giống bát úp; tiếp nữa là dải đồng bằng nhỏ hẹp chạy ra biển; sau cùng là những bãi cát ven biển cùng với nhiều vũng, vịnh,tiêu biểu là cảng biển nước sâu Vũng Áng và bãi biển Thiên Cầm.

3. Khí hậu
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ngoài ra Hà Tĩnh còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp của miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc, nên thời tiết, khí hậu rất khắc nghiệt. Hàng năm, Hà Tĩnh có hai mùa rõ rệt:
Mùa mưa: Mưa trung bình hằng năm từ 2500 ly đến 2650 ly. Hạ tuần tháng 8, tháng 9 và trung tuần tháng 11 lượng mưa chiếm 54% tổng lượng mưa cả năm.
Mùa khô: Từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau. Đây là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam (thổi từ Lào) khô, nóng, lượng bốc hơi lớn.

4. Lịch sử
Thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hà Tĩnh thuộc bộ Cửu Đức
Thời nhà Hán, thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân
Thời nhà Ngô, thuộc Cửu Đức
Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê: gọi là Hoan Châu
Năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An
Từ năm 1490 gọi là xứ Nghệ An
Thời Tây Sơn, gọi là Nghĩa An trấn
Nhà Nguyễn năm Gia Long nguyên niên lại đặt làm Nghệ An trấn
Năm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam).

Năm Tự Đức thứ 6 (năm 1853) đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo, hợp vào Nghệ An thành An Tĩnh;
Năm thứ 29 (năm 1876) lại đặt tỉnh Hà Tĩnh như cũ.
Từ năm 1976-1991, Nghệ An và Hà Tĩnh là một tỉnh và được gọi là tỉnh Nghệ Tĩnh
Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay
Năm 1992, Thị xã Hồng Lĩnh thuộc tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở: thị trấn Hồng Lĩnh; xã Đức Thuận, xã Trung Lương; một phần xã Đức Thịnh thuộc huyện Đức Thọ; các xã Đậu Liêu và Thuận Lộc thuộc huyện Can Lộc.

Năm 2000, huyện Vũ Quang được thành lập trên cơ sở tách 6 xã thuộc huyện Đức Thọ, 5 xã thuộc huyện Hương Khê và 1 xã thuộc huyện Hương Sơn.
Năm 2007, huyện Lộc Hà được thành lập trên cơ sở 7 xã ven biển của huyện Can Lộc và 6 xã ven biển của huyện Thạch Hà.

5. Dân cư

Hà Tĩnh có 1.227.554 người (điều tra dân số ngày 01/04/2009), giảm so với điều tra dân số năm 1999, do một bộ phận dân di cư chuyển đến các địa phương khác sinh sống mà chủ yếu là ở các tỉnh phía Nam. Dân tộc chủ yếu sống tại Hà Tĩnh là người Kinh và một dân tộc thiểu số khác cùng nhóm với người Kinh là người Chứt sống ở miền núi với khoảng vài ngàn người.

6. Đất

Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên 6.055,7 km². trong đó:
Đất ở: 6.799 ha
Đất nông nghiệp: 98.171 ha
Đất lâm nghiệp: 240.529 ha
Đất chuyên dùng: 45.672 ha
Đất chưa sử dụng: 214.403 ha

7. Sông
Hà Tĩnh có nhiều sông nhỏ và bé chảy qua, con sông lớn nhất là sông La và sông Lam, ngoài ra có con sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Ngàn Trươi, Rào Cái, Tổng chiều dài các con sông khoảng 400 km, tổng sức chứa 13 tỷ m³. còn hồ Kẻ Gỗ, hồ Sông Rác, hồ Cửa Thờ Trại Tiểu...ước 600 triệu m³.

8.Tài nguyên biển
Hà Tĩnh có bờ biển dài (?). Trữ lượng nhiều khoảng 85,8 nghìn tấn cá, 3,5 nghìn tấn mực và 600 tấn tôm.

9. Rừng

Tỉnh Hà Tĩnh có trên 300.000 ha rừng và đất rừng, trong đó diện tích rừng chiếm 66%, còn lại chưa có rừng, gồm trên 100.000 ha đất trống đồi núi trọc, đất bụi và bãi cát. Rừng tự nhiên (164.978 ha) hiện chủ yếu phân bố ở vùng núi cao, xa các trục giao thông, trong đó rừng sản xuất kinh doanh 100.000 ha, rừng phòng hộ 63.000 ha, độ che phủ 38% so với diện tích đất tự nhiên. Rừng giàu chỉ chiếm 10%, rừng trung bình 40%, còn lại 50% là rừng nghèo kiệt. Đất không có rừng 151.000 ha, chiếm 24,4% diện tích tự nhiên của tỉnh, trong đó một số diện tích ở sườn đồi đang bị xói mòn. Trữ lượng gỗ 20 triệu m³, hàng năm khai thác chừng 2-3 vạn m³; những năm gần đây thực hiện chính sách đóng cửa rừng nên lượng gỗ khai thác hàng năm đã giảm nhiều.Thực vật của rừng đa dạng và phong phú, có trên 86 họ và trên 500 loại cây dạng thân gỗ, trong đó có nhiều loại gỗ quý như: lim, sến, táu, mật, đinh, gõ, pơmu và các loại động vật quý hiếm như: voi, hổ, báo, vượn đen, sao la.

Hà Tĩnh có khu vườn quốc gia Vũ Quang rộng 56 nghìn ha với 307 loài thực vật bậc cao thuộc 236 chi và 99 họ, 60 loài thú, 187 loài chim, 38 loài bò sát, 26 loài lưỡng cư và 56 loài cá[cần dẫn nguồn]. Đặc biệt, ở rừng Vũ Quang đã phát hiện ra sao la và mang lớn là hai loại thú quý hiếm chưa có tên trong danh mục thú của thế giới.

10. Hành chính

Hà Tĩnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 10 huyện với 259 xã, phường và thị trấn:
Thành phố Hà Tĩnh (tỉnh lỵ)
Thị xã Hồng Lĩnh
Huyện Cẩm Xuyên
Huyện Can Lộc
Huyện Đức Thọ
Huyện Hương Khê
Huyện Hương Sơn
Huyện Kỳ Anh
Huyện Nghi Xuân
Huyện Thạch Hà
Huyện Vũ Quang
Huyện Lộc Hà (mới thành lập 7/2/2007).

11. Văn hóa

Hà Tĩnh là một vùng đất nằm trên dải đất miền Trung thiên nhiên không mấy ưu đãi, nhưng lại được coi là nơi "địa linh nhân kiệt". Nhiều làng quê ở Hà Tĩnh nổi tiếng văn chương, khoa bảng và anh hùng.

Núi Hồng Lĩnh với 99 ngọn cùng sông Ngàn Phố, sông Ngàn Sâu và sông La, sông Lam là nguồn cảm hứng cho các thế hệ thi nhân, nhạc sĩ. Núi Hồng Lĩnh là một trong số các địa danh được khắc vào Bách khoa thư cửu đỉnh hiện đang đặt tại cố đô Huế.

Phía đông Hồng Lĩnh là làng Tiên Điền của đại thi hào Nguyễn Du, tác giả của Truyện Kiều. Phía tây nam núi Hồng lĩnh là làng "Bát cảnh Trường Lưu" của dòng họ Nguyễn Huy. Hai làng văn hiến ở hai sườn đông và tây núi Hồng Lĩnh ấy đã tạo nên một Hồng Sơn văn phái với những tác phẩm tiêu biểu như Hoa tiên (của Nguyễn Huy Tự), Mai Đình mộng ký (của Nguyễn Huy Hổ), Truyện Kiều. Các làng Thu Hoạch, Trường Lưu, Tiên Điền, Uy Viễn, Đông Thái, Yên Hội, Gôi Mỹ, Thần Đầu, Trung Lễ, Bùi Xá, Ích Hậu, Trung Lương, Ân Phú... nổi danh về truyền thống học hành, khoa bảng và văn chương.

Đây là quê hương của các danh nhân như vua Mai Hắc Đế, Trạng nguyên Đào Tiêu, nhà sử học Sử Hy Nhan (đời nhà Trần), của hai vị tướng Đặng Tất và Đặng Dung, quê hương của Nguyễn Biểu (nhà ngoại giao thời nhà Trần và tác giả bài thơ ăn cỗ đầu người khi đi sứ), Bảng nhãn Lê Quảng Chí, Bảng nhãn Trần Bảo Tín, thầy địa lý Tả Ao, quê ngoại của danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (thời Hậu Lê), của Ngự sử Bùi Cầm Hổ (thời Lê sơ), Tam nguyên Hoàng giáp Tể tướng lục bộ Nguyễn Văn Giai (đầu đời Lê trung hưng), La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (quân sư tối cao của Quang Trung), của nhà bác học Phan Huy Chú, nhà ngoại giao Phan Huy Ích, của đại doanh điền- nhà thơ Nguyễn Công Trứ, Cử nhân Đào Hữu Ích, của nhà sử học Trần Trọng Kim (thủ tướng đầu tiên của Chính phủ Đế quốc Việt Nam hay Việt Nam nói chung), của nhà yêu nước Phan Đình Phùng, của các nhà cách mạng Trần Phú và Hà Huy Tập (Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương), quê hương của nhà khoa học Hoàng Xuân Hãn, nhà toán học Lê Văn Thiêm, hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện; Giáo sư, Nhà Ngôn ngữ học Lê Khả Kế; nhà thơ Xuân Diệu, nhà thơ Huy Cận (Cù Huy Cận), danh họa Nguyễn Phan Chánh, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Đổng Chi, nhà vật lý hạt nhân Nguyễn Đình Tứ, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi, các nhà sử học Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm; Giáo sư, Viện sỹ Y học Phạm Song; nhà khảo cổ học Hà Văn Tấn, v.v.

Hà Tĩnh còn có nhiều làng văn nghệ nổi tiếng trong vùng như: làng hát ca trù Cổ Đạm, chèo Kiều Xuân Liên, hát ví phường vải Trương Lưu, hò ví dặm Đan Du, Phong Phú... Nhiều làng nền nếp, phong lưu có nhiều lễ hội, hương ước, phong tục như: Kim Chùy, Hội Thống, Đan Trường, Kim Đôi, Phù Lưu Thượng... Các làng truyền thống với những giọng hò nổi tiếng quanh núi Hồng Lĩnh, ven dòng sông Lam, sông La, sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Phố đã để lại nhiều thơ văn và trước tác.

12. Du lịch
Bãi biển Thiên Cầm, Xuân Thành, Chân Tiên
Khu du lịch sinh thái hồ Kẻ Gỗ, suối nước nóng Sơn Kim
Chùa Hương tích núi Hồng
[sửa] Di tích
Khu di tích lich sử Ngã ba Đồng Lộc
Khu lưu niệm đại thi hào Nguyễn Du
Khu di tích đại danh y Hải Thượng Lãn Ông
Đền thờ Nguyễn Biểu:
Đền thờ Song Trạng
Mộ Song Trạng ở Ân Phú
Đền thờ Bùi Cầm Hổ
Mộ Phan Đình Phùng
Nhà thờ Phan Đình Phùng
Nhà thờ Đào Hữu Ích (xã Sơn Bằng, huyện Hương Sơn)
Khu lưu niệm Trần Phú
Khu lưu niệm Tổng bí thư Hà Huy Tập
Nhà thờ và mộ Lê Bôi
Đền thờ Lê Quảng Ý và Lê Quảng Chí
Nhà thờ Nguyễn Công Trứ
Đình Hội Thống
Đền Chiêu Trưng
Đền Củi: thờ Đức Hoàng Mười
Chù Am
Điện thờ Lê Triều Hoàng Hậu ở Ân Phú với 7 sắc phong
Đền Võ Miếu

Nguồn: WikiMedia
 

Phạm Viễn Phương Đông

Răng là nhục-răng là vinh
Staff member
#8

5. Dân cư

Dân tộc chủ yếu sống tại Hà Tĩnh là người Kinh và một dân tộc thiểu số khác cùng nhóm với người Kinh là người Chứt sống ở miền núi với khoảng vài ngàn người.
Thực ra, số lượng người dân tộc Chứt ở Hà Tĩnh không có nhiều như thế. Theo số liệu của Cán bộ đồn Biên phòng 571 cho bọn mình biết trong đợt đi tình nguyện Mùa Đông Ấm vừa rồi, thì hiện nay dân số Bản Rào Tre có 34 hộ với 132 nhân khẩu. Số lượng người Chứt tập trung chủ yếu ở 3 huyện là Minh Hoá, Tuyên Hoá và Bố Trạch (Quảng Bình) và 1 số ít sinh sống ở Lào.
Có 1 điều thú vị mình thấy là họ nói chuyện với mình thì họ nói tiếng Kinh, nhưng có 1 đứa trẻ khóc thì mẹ nó lại dỗ bằng tiếng Chứt của họ, mình nỏ hiểu chi trơn :D Có khi bà í chửi mình tưởng mình làm con bà ta khóc cụng nên :D

Thêm một mẩu chuyện vui mình mới đọc được :)



Trên đường đến với Rào Tre, chúng tôi đã ghé thăm nhà Hồ Phúc (42 tuổi). Trong căn nhà vắng lặng, Hồ Phúc chỉ tay về phía cánh rừng: Gấy tui (vợ tôi) đã chết, chôn ở trên đấy. Tui phải ở nhà một mình, nhưng không buồn vì hai đứa con gái được đi học ngoài thị trấn. Chúng tôi hiểu, dẫu còn khốn khó và cái phận “gà trống nuôi con”, nhưng trong ánh mắt Hồ Phúc vẫn toát lên niềm hạnh phúc vô hạn. Đó là niềm hạnh phúc không riêng của Hồ Phúc mà của dân bản Rào Tre và cả chúng tôi nữa.
Thấy Hồ Phúc quấn chiếc khăn trên đầu khá sặc sỡ, chúng tôi hỏi:
Hồ Phúc mua đâu chiếc khăn đẹp thế?/
Khăn của Bác Hồ cho mà./
Hồ Phúc đã gặp Bác Hồ chưa?/
Gặp rồi./
Gặp ở đâu?/
Gặp ở ngoài thị trấn, khi mô muốn gặp Bác Hồ thì ra ngoài thị trấn (vì ở ngoài thị trấn có nhiều nơi treo ảnh Bác Hồ - PV).
Đến đây, chúng tôi càng hiểu sâu hơn những tình cảm thiêng liêng, trường tồn cùng thời gian mà bà con Mã Liềng, một dân tộc suýt bị tuyệt chủng đã dành cho bác kính yêu của chúng ta. Nghẹn ngào trong thành kính, chúng tôi hứa với Hồ Phúc rằng, lần sau khi có dịp trở lại Rào Tre, chúng tôi sẽ tặng Hồ Phúc và bà con dân bản một bức chân dung Bác Hồ thật đẹp.

Và điều đặc biệt, tất cả đều mang họ Bác Hồ - Một điều hết sức thiêng liêng và ý nghĩa...

 

quyenxo84

Vẫn đang phục hồi nhân phẩm
Staff member
#9
I. MỘT SỐ THÔNG TIN CƠ BẢN
1. Khái quát điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Tỉnh Hà Tĩnh là tỉnh miền trung, nằm ở toạ độ địa lý: 17054' - 18054' vĩ độ Bắc, 105048' - 108000' kinh độ Ðông; phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp nước bạn Lào, phía Ðông giáp biển Ðông; cách thủ đô Hà Nội 333 km về phía Nam. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 6.055,74 km2, chiếm gần 1,8% tổng diện tích tự nhiên của cả nước. Là tỉnh được kế thừa và thụ hưởng các tuyến đường giao thông quan trọng như: Quốc lộ 1A dài 100 km, quốc lộ 8A dài 60km, đường Hồ Chí Minh dài 68 km, đường sắt thống nhất từ ga Thọ Tường (huyện Ðức Thọ) đến ga La Khê (huyện Hương Khê) dài 50 km, có đường biển dài 137 km. Hệ thống sông ngòi chính gồm Sông Lam, sông La, sông Ngàn Phố, sông Ngàn Sâu, sông Rác, sông Nghèn...
Ðịa hình: Do nằm ở phía Ðông dãy Trường Sơn, nên địa hình tỉnh Hà Tĩnh hẹp và dốc nghiêng từ Tây sang Ðông. Diện tích vùng miền núi và trung du là 4.175 km2, chiếm gần 70% diện tích tự nhiên toàn tỉnh; vùng đồng bằng là 1.879km2, chiếm gần 30%. Ðiểm cao nhất là núi Ba Mụ (huyện Hương Khê) cao 1.367m so với mặt nước biển.
Khí hậu: Thuộc vùng nhiệt đới gió mùa; mưa, bão tập trung vào các tháng 9 và 10 trong năm. Tần suất lũ lụt, lũ quét những năm gần đây trung bình 2-3 lần/năm. Các hiện tượng gió lốc, mưa đá thỉnh thoảng xảy ra cục bộ một vài nơi. Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.396 mm. Nhiệt độ trung bình cao nhất là 32,90, thấp nhất là 18,20; tháng nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình 25,40; tháng lạnh nhất là tháng 1 với nhiệt độ trung bình là 10,80C. Tần suất sương muối thường xảy ra ở vùng cao, biên giới từ 2-3 lần/năm.
2. Dân số - Dân tộc
Dân số - Dân tộc: Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Hà Tĩnh có 1.268.968 người. Trong đó, số người trong độ tuổi lao động xã hội toàn tỉnh là 645.555 người, chiếm 46,95% dân số. Trên địa bàn toàn tỉnh có 5 thành phần dân tộc chính, đông nhất là dân tộc Kinh chiếm gần 99%. Các dân tộc thiểu số gồm dân tộc Lào có 594 người; dân tộc Mường có 403 người; dân tộc Chứt có 127 người.
Trình độ dân trí: Tính đến hết năm 2002 đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 11/11 huyện thị với 260 phường xã. Số học sinh phổ thông năm học 2001 - 2002 là 363.235 học sinh. Trong đó: Tiểu học là 183.251 học sinh, trung học cơ sở là 134.864 học sinh, trung học phổ thông là 45.120 học sinh. Số giáo viên năm học 1999-2000 là 13.169 người. Trong đó: Tiểu học là 3.339 người, trung học cơ sở là 5.280 người, trung học phổ thông là 1.550 người. Số cán bộ y tế năm 2000 là 2.376 người. Trong đó: Bác sỹ là 433 người, y sỹ và kỹ thuật viên là 967 người, y tá là 669 người, nữ hộ sinh là 307 người. Bình quân y, bác sỹ trên 1 vạn dân là 10,2 người.
3. Tài nguyên thiên nhiên
3.1. Tài nguyên đất
Tỉnh Hà Tĩnh có 605.574 ha diện tích đất tự nhiên. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 98.171 ha, chiếm 16,24%; diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 240.529 ha, chiếm 39,72%; diện tích đất chuyên dùng là 45.672 ha, chiếm 7,54%; diện tích đất khu dân cư là 6.799 ha, chiếm 1,12%; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 214.402 ha, chiếm 35,40%.
Trong đất nông nghiệp, diện tích đất trồng cây hàng năm là 76.234 ha, chiếm 77,67%, riêng đất trồng lúa là 65.159 ha, chiếm 85,47% diện tích trồng cây hàng năm; diện tích đất trồng cây lâu năm là 2.964 ha, chiếm 3,01%.
Diện tích đất trống, đồi núi trọc cần phải phủ xanh là 160.187 ha, bãi bồi có thể sử dụng là 22.564 ha, tổng diện tích mặt nước là 6.576 ha trong đó đang khai thác sử dụng là 947 ha, chưa khai thác sử dụng là 5.629 ha.
3.2. Tài nguyên rừng
Tính đến năm 2002, toàn tỉnh có 244.453 ha đất lâm nghiệp. Trong đó rừng tự nhiên là 194.754 ha, rừng trồng là 49.699 ha.
Các khu bảo tồn thiên nhiên: Khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang có diện tích là 61.283 ha. Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ gỗ có diện tích: 35.000 ha.
3.3. Tài nguyên biển
Toàn tỉnh có 137 km bờ biển từ huyện Nghi Xuân đến huyện Kỳ Anh, gồm các cửa biển chính: Cửa Hội - Nghi Xuân, Cửa Sót -Thạch Hà, Cửa Nhượng - Cẩm Xuyên, Cửa Khẩu - Kỳ Anh. Ðây là một ngư trường có nhiều hải sản quý và hiếm với trữ lượng khá cao như tôm hùm, sò huyết... chỉ mới khai thác được từ 10 đến 15%. Hà Tĩnh có thể phát triển một cách toàn diện về kinh tế biển là đánh bắt, nuôi trồng và công nghiệp chế biến hải sản xuất khẩu.
3.4. Tài nguyên khoáng sản
Hà Tĩnh có tiềm năng lớn về khoáng sản nhưng chưa được đầu tư khai thác có hiệu quả đó là:
- Quặng sắt ở Thạch Khê (Thạch Hà) có trữ lượng khoảng 500 triệu tấn.
- Mỏ thiếc ở Sơn Kim (Hương Sơn); vàng ở Hoà Hải (Hương Khê) và Kỳ Tây, Kỳ Hợp (Kỳ Anh). Quặng ILMINITE ở Thạch Hà và Cẩm Xuyên sản lượng khai thác bình quân: 100.000tấn/năm. ZIRCON sản lượng khai thác bình quân: 7.000tấn/năm. RUTSIN sản lượng khai thác bình quân: 3.000tấn/năm.
- Ô xít titan có trữ lượng 3 - 5 triệu tấn chạy dọc bờ biển có khả năng liên doanh với nước ngoài.
3.5. Tài nguyên du lịch
Là điểm du lịch quan trọng trên tuyến du lịch xuyên việt có tính chất trung chuyển. Từ Hà Tĩnh du khách có thể đi thăm các điểm du lịch đặc sắc về sinh thái, lịch sử văn hoá như khu bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang, khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, các di tích gắn với cuộc đời của đại thi hào Nguyễn Du; du lịch biển có các bãi tắm: Thiên Cầm, Xuân Thành, Thạc Hải, Ðèo Ngang; du lịch các di tích lịch sử như chùa Hương Tích, đền Lê Khôi, ngã ba Ðồng Lộc, Khu di tích....
4. Kinh tế - Xã hội năm 2002
- Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,96%/năm.
- Thu nhập bình quân đầu người: 3.136.000đồng/năm.
- Tỷ trọng cơ cấu theo ngành kinh tế:
+ Nông- lâm- ngư nghiệp: 48,89%.
+ Công nghiệp- xây dựng: 13,74%.
+ Thương mại - dịch vụ: 37,37%.
- Các sản phẩm chủ yếu:
a. Sản phẩm nông nghiệp: Sản phẩm lương thực có hạt: 450.000 tấn; lạc vỏ: 32.000 tấn; chè búp tươi: 3.200 tấn; thịt lợn hơi các loại: 32.000 tấn.
b. Ðánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản: Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản: 3.500 tấn; Sản lượng khai thác thuỷ sản: 27.000 tấn.
c. Sản phẩm công nghiệp: Than sạch: 3.500 tấn; thuỷ sản chế biến: 2.100 tấn; xi măng: 13.000 tấn; gạch xây: 150.000 nghìn viên; đá xây dựng: 600.000m3; cát sỏi: 500.000 m3; phân bón NPK + vi sinh: 5.000 tấn; muối biển: 29.500 tấn.


Còn tiếp ...
 

quyenxo84

Vẫn đang phục hồi nhân phẩm
Staff member
#10
II. MỘT SỐ THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI
1. Kết quả phân định 3 khu vực
Huyện Hương Khê:
- Khu vực I (MN): Xã Phú Phong, Gia Phố, Hương Xuân, Phúc Trạch, Hương Long, Hương Bình, Hương Thuỷ, Phúc Ðồng, Hà Linh, Hương Ðô, Hương Trạch, thị trấn Hương Khê, thị trấn nông trường 30/4.
- Khu vực II (MN): Xã Hương Vĩnh, Hương Ðại, Hương Minh, Hương Thọ, Lộc Yên, Hương Giang, Phương Mỹ, Phương Ðiền; (VC): Xã Phú Gia, Hoà Hải.
- Khu vực III (MN): Xã Hương Liên, Hương Ðiền; (VC): Xã Vũ Quang, Hương Lâm.
Huyện Hương Sơn:
- Khu vực I (MN): Xã Sơn Ninh, Sơn Châu, Sơn Bình, Sơn Trà, Sơn Thịnh, Sơn Tân, Sơn Long, Sơn Mỹ, Sơn Hà, Sơn Trung, Sơn Diện, Sơn Giang, Sơn Phú, Sơn Phúc, Sơn Thuỷ, Sơn Quang, Sơn Hoà, Sơn An, Sơn Bằng, Sơn Phố, thị trấn Phố Châu.
- Khu vực II (MN): Xã Sơn Tây, Sơn Hàm, Sơn Lễ, Sơn Mai, Sơn Trường, Sơn Thọ, Sơn Tiến.
- Khu vực III (MN): Xã Sơn Hồng, Sơn Lĩnh, Sơn Lâm, Sơn Kim.
Huyện Kỳ Anh:
- Khu vực I (MN): Xã Kỳ Bắc, Kỳ Tiến, Kỳ Tân, Kỳ Hưng, Kỳ Giang, Kỳ Phong, Kỳ Hoa, Kỳ Văn, Kỳ Khang, Kỳ Ðồng.
- Khu vực II (MN): Xã Kỳ Lợi, Kỳ Trinh, Kỳ Liên, Kỳ Nam, Kỳ Thịnh, Kỳ Phương, Kỳ Xuân.
- Khu vực III (MN): Xã Kỳ Tây, Kỳ Lạc, Kỳ Thượng, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Hợp.
Huyện Ðức Thọ:
- Khu vực I (MN): Xã Ðức Lạng, Ðức Lập, Ðức Ðồng, Ân Phú.
- Khu vực II (MN): Xã Ðức Lĩnh, Ðức Hương, Tân Hương, Ðức Giang, Ðức Liên, Ðức Bồng.
Huyện Can Lộc:
Khu vực I (MN): Xã Phú Lộc, Thượng Lộc, Ðồng Lộc, Mỹ Lộc, Hồng Lộc, Thiên Lộc.
Huyện Nghi Xuân:
- Khu vực I (MN): Xã Xuân Lam, Xuân Hồng, Cương Gián.
- Khu vực II (MN): Xã Xuân Lĩnh, Cổ Ðạm, Xuân Viên.
Huyện Thạch Hà:
- Khu vực I (MN): Xã Thạch Ðiền, Thạc Xuân, Bắc Sơn, thị trấn NT T.Ngọc.
- Khu vực II (MN): Xã Nam Hương.
Huyện Hồng Lĩnh:
Khu vực I (MN): Xã Nam Hồng, Ðức Thuận, Ðậu Liên, Trung Lương.
Huyện Cẩm Xương:
- Khu vực I (MN): Xã Cẩm Quan, Cẩm Thịnh, Cẩm Sơn, Cẩm Mỹ, Cẩm Minh.
- Khu vực II (MN): Xã Cẩm Lĩnh.
2. Danh sách các xã thuộc Chương trình 135
- Huyện Hương Khê: Xã ÐBKK: Hương Liên, Hương Lâm, Phương Ðiền, Phương Mỹ, Hương Trạch; Xã Biên giới: Hoà Hải, Phú Gia, Hương Vĩnh.
- Huyện Hương Sơn: Xã ÐBKK: Sơn Hồng, Sơn Lĩnh, Sơn Lâm, Sơn Kim, Sơn Lễ, Sơn Tiến.
- Huyện Kỳ Anh: Xã ÐBKK: Kỳ Tây, Kỳ Lạc, Kỳ Thượng, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Hợp.
- Huyện Vũ Quang: Xã ÐBKK: Sơn Thọ, Hương Thọ, Ðức Liên, Hương Ðiền, Vũ Quang.
3. Một số vấn đề dân tộc và tôn giáo
a. Tình hình dân tộc, tôn giáo: Hà Tĩnh là tỉnh có rất ít đồng bào dân tộc thiểu số, toàn tỉnh có 4 thành phần tộc thiểu số chính gồm 296 hộ, 1.508 nhân khẩu cư trú tập trung, xen ghép tại 8 thôn bản thuộc 7 xã của 3 huyện miền núi: Hương Khê, Hương Sơn và Vũ Quang. Trong đó tộc người Mã Liềng thuộc nhóm dân tộc Chứt gồm 30 hộ, 127 nhân khẩu cư trú tập trung tại 2 bản: Bản Rào Tre xã Hương Liên và bản Giàng II xã Hương Vĩnh, huyện Hương Khê là một trong những tộc người lạc hậu nhất cần được bảo tồn và phát triển.
Hà Tĩnh có 13 vạn tín đồ theo các tôn giáo, chiếm 10,4% dân số của tỉnh. Trong đó: Công giáo có 132.132 tín đồ, Phật giáo có 1.635 Phật tử. Toàn tỉnh có: 272 cơ sở thờ tự gồm: Nhà thờ, nhà chùa, nhà nguyện, tu viện. 131/260 xã, phường, thị trấn ở 11/11 huyện, thị có đồng bào giáo dân, có 461 khu dân cư vùng giáo trong đó có 114 xóm giáo toàn tòng.
Về giáo hội, chức sắc, nhà tu hành, chức viên tôn giáo:
- Công giáo: Ðạo Công giáo ở Hà Tĩnh thuộc giáo phận Vinh đến tháng 3/2002 số tổ chức giáo hội, Công giáo đang hoạt động có: 6 hạt đạo, 50 xử đạo, 207 họ đạo và 17 họ đạo nhưng chưa được chính quyền công nhận. Toàn tỉnh có 2 cơ sở dòng tu, 1 tu hội trái phép, 40 linh mục, 27 nữ tu và 10 người thuộc tu hội trái phép, 16 chúng sinh đại chúng viện Vinh - Thanh, 224 Ban hành giáo xứ họ, 17 ban hành giáo xứ họ chưa được chính quyền công nhận, 1.551 người hoạt động trong Ban hành giáo xứ họ, 1.500 người hoạt động giáo lý viên xứ họ.
- Phật giáo: Trước đây Hà Tĩnh có nhiều chùa, có sự trụ trì nhưng do chiến tranh tàn phá và nhận thức chưa đầy đủ về "Quyền tự do tín ngưỡng" nên dần dần bị lãng quên, tín đồ, phật tử còn ít. Từ năm 1990 lại đây, Phật giáo từng bước phục hồi hoạt động đan xen với tĩn ngưỡng dân gian. Ðến nay toàn tỉnh có: 59 chùa, trong đó có 11 chùa tổ chức hành lễ thường xuyên, có 3 nhà sư trong đó có 1 vị kiêm trụ trì chính, có 11 Ban hộ tự hoặc Ban nghi lễ, 90 người trong Ban Quản lý di tích.
- Tin Lành: Ðạo Tin Lành ở Hà Tĩnh hiện nay không có cơ sở thờ tự, không có tổ chức, có khoảng vài chục tín đồ hoạt động tín ngưỡng tại gia. Từ năm 2000 đến nay, có một số người bị mua chuộc, lôi kéo vào miền Nam tu học để khi về quê tuyên truyền vận động người vào đạo. Một số cá nhân tôn giáo thuộc tổ chức phi Chính phủ hoạt động tại địa bàn và một số người du học, lao động ở nước ngoài về đã mang theo băng hình, tài liệu truyền đạo Tin lành. Tuy đã kịp thời phát hiện ngăn chặn nhưng vẫn còn khá phức tạp.
- Các hình thức tĩn ngưỡng, tôn giáo mới phát sinh đang hoạt động tại địa phương: Một số phái, nhóm lợi dụng tín ngưỡng phật giáo hoạt động mê tín dị đoan. Xưng đạo mới trên địa bàn nhiều năm như: "Ðạo Chân Không" của Lưu Văn Ty ở thị xã Hà Tĩnh, "Ðạo Thầy Kiệm" của Nguyễn Kiệm ở Hồng Lộc, Thiên Lộc - Can Lộc. Những năm gần đây hoạt động của Lưu Văn Ty và những người theo Ty trên địa bàn có giảm (còn khoảng 90 người) nhưng lại đang có xu hướng phát triển sang những tỉnh thành khác. Hoạt động của Ty và Kiệm rất kín đáo, lén lút lẩn tránh sự kiểm soát của chính quyền địa phương.
b. Tình hình thiên tai, hoả hoạn: Những năm gần đây ở Hà Tĩnh nhìn chung mưa thuận gió hoà, ít xảy ra hán hán, lũ lụt, nếu có cũng không đáng kể, cụ thể hàng năm dọc theo dòng sông La, các xã ngoài đê của huyện Ðức Thọ có bị xói lở mất hàng chục ha đất sản xuất và đất ở của dân nhưng chính quyền sở tại đã kịp thời tái định cư cho các hộ này nên không có ảnh hưởng gì lớn đến đời sống, kinh tế - chính trị - xã hội.
Hiện tượng động đất, trượt lở nhiều năm gần đây không thấy xảy ra. Là tỉnh sản xuất công nghiệp kém phát triển nên tình trạng ô nhiễm môi trường đang ở mức thấp. Về mùa khô nắng nóng, cháy rừng thỉnh thoảng xẩy ra cục bộ ở một vài nơi nhưng do công tác phòng chống cháy rừng được quán triệt và thực hiện tương đối nghiêm túc nên hậu quả của các vụ cháy rừng không đến mức nghiêm trọng.
c. Tình hình di cư tự do: Do dân cư phân bố không đều, vùng đồng bằng đất đai ít nhưng dân cư lại sống tập trung nên xảy ra tình trạng "Ðất chật người đông", những năm trước đây do có chủ trương của Nhà nước và bằng nhiều con đường tìm nơi lập nghiệp Hà Tĩnh đã chuyển được một số lượng dân cư khá lớn vào định cư ở các tỉnh phía Nam. Mấy năm gần đây Nhà nước không có chủ trương di dân ngoại tỉnh, hơn nữa các tỉnh phía Nam cũng không tiếp nhận nên việc di dân ngoại tỉnh không thực hiện được. Chỉ có từ năm 1997-2001 có 110 hộ di dân ra huyện đảo Cô Tô tỉnh Quảng Ninh.
Công tác di dân chủ yếu là di dân nội tỉnh bình quân mỗi năm từ 400-500 hộ vào các vùng dự án kinh tế mới: chè, cao su, dứa, cây ăn quả. Nhằm giải quyết những vùng dân cư tập trung, vùng ngập lụt, vùng giải phóng mặt bằng khu công nghiệp.
d. Tình hình đời sống: Toàn tỉnh hiện có 76.659 hộ nghèo, chiếm 25,86%, trong đó tỷ lệ đói nghèo ở các xã ÐBKK thuộc Chương trình 135 là 39,57%. Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo chủ yếu là do thiếu vốn sản xuất chiếm 77,94%, thiếu sức lao động chiếm 16,05%, thiếu kiến thức trong sản xuất chiếm 28,45%, thiếu tư liệu sản xuất chiếm 29,13%, do đông con chiếm 20,19%, do tệ nạn xã hội chiếm 0,44%, do ốm đau bệnh tật chiếm 27,32%, do tai nạn rủi ro chiếm 5,5% (có hộ chỉ vì một nguyên nhân, nhưng có hộ vì nhiều nguyên nhân).
 

quyenxo84

Vẫn đang phục hồi nhân phẩm
Staff member
#11
III. QUY HOẠCH VÀ KẾ HOẠCH DÀI HẠN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Tóm tắt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010
1.1. Ðịnh hướng phát triển
- Xây dựng nền kinh tế của tỉnh trong sự gắn bó hữu cơ với nền kinh tế của cả nước, chủ động khai thác có hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của tỉnh, tranh thủ những khả năng từ bên ngoài để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
- Coi trọng phát triển yếu tố con người, chú trọng cả thể lực và trí tuệ, xây dựng đội ngũ lao động có trình độ đủ năng lực tiếp nhận công nghệ mới.
- Kết hợp hài hoà giữa ngoại lực và nội lực nhằm thu hút tối đa vốn đầu tư từ bên ngoài, công nghệ tiên tiến thúc đẩy và tạo mọi điều kiện tăng nhanh giá trị xuất khẩu, khẩn trương chuẩn bị các điều kiện cần thiết phát triển khoa học công nghệ, cơ sở hạ tầng để tạo đà cho các khu công nghiệp tập trung, lấy nó làm yếu tố quyết định đột phá để tăng nhanh tiềm lực kinh tế, chủ động thực hiện tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá một cách có hiệu quả.
- Phát triển bền vững khai thác mọi tiềm năng, lợi thế, đảm bảo cho phát triển nhanh nhưng không làm tổn hại đến môi trường, môi sinh và làm ảnh hưởng đến thế hệ sau.
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội, xoá đói, giảm nghèo nâng cao dân trí, giảm dần mức khoảng cách chênh lệch về thu nhập và mọi mặt khác giữa các thành thị và nông thôn, giữa miền núi và miền xuôi.
- Phát triển kinh tế - xã hội cùng cả nước tham gia hội nhập với bên ngoài. Thúc đẩy phát triển các ngành sản xuất cũng như dịch vụ nhưng phải gắn với củng cố an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền và an ninh quốc gia.
1.2. Các mục tiêu cụ thể
- Phấn đấu tăng trưởng kinh tế ngang bằng với bình quân chung của vùng Bắc khu Bốn cũ, đạt bình quân tăng từ 8-9%.
- GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt khoảng: 410 USD.
- Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2010 còn 0,5 - 0,7%.
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 xuống dưới 5%.
- 90% hộ dân trong tỉnh có điện sinh hoạt.
- Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở trước năm 2010.
1.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Xây dựng cơ cấu kinh tế nông - lâm - ngư - công nghiệp - xây dựng và dịch vụ theo hướng tăng dần tỷ trọng trong lĩnh vực kinh tế - công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, đồng thời giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp. Phấn đấu cơ cấu kinh tế trong giai đoạn quy hoạch như sau:
- Năm 2005:
+ Kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp: 40%.
+ Kinh tế công nghiệp - xây dựng: 22%.
+ Kinh tế dịch vụ: 38%.
- Năm 2010:
+ Kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp: 33%.
+ Kinh tế công nghiệp - xây dựng: 25%.
+ Kinh tế dịch vụ: 42%.
1.4. Quy hoạch phát triển theo lãnh thổ
+ Vùng đồng bằng ven biển chiếm 15,7% diện tích tự nhiên toàn tỉnh gồm các huyện: Nghi Xuân, Ðức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, thị xã Hồng Lĩnh và thị xã Hà Tĩnh. Vùng này có thể coi là vùng trọng điểm, là nhân tố có ý nghĩa đột phá làm bàn đạp kinh tế để tỉnh thoát khỏi tình trạng tỉnh nghèo, chậm phát triển.
+ Vùng miền núi trung du bán sơn địa chiếm 84,22% diện tích tự nhiên của tỉnh gồm các huyện: Hương Sơn, Vũ Quang, Hương Khê và Kỳ Anh. Ðây là vùng có nhiều tiềm năng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển lâm nghiệp.
1.5. Quy hoạch phát triển mạng lưới đô thị
- Thị xã Hà Tĩnh là trung tâm của tỉnh lỵ, dự kiến sẽ nâng cấp mở rộng thành đô thị loại 3 vào năm 2005. Ðến năm 2010 sẽ có quy mô khoảng 12-15 vạn người và sẽ trở thành thành phố khi mỏ sắt Thạch Khê được tổ chức khai thác.
- Quy hoạch vùng đô thị phía Nam huyện Kỳ Anh khi dự án luyện thép tại khu công nghiệp cảng Vũng Áng ra đời.
- Nâng cấp các trung tâm huyện lỵ thành đô thị loại 5 theo tiêu chuẩn quốc gia .
1.6. Ðịnh hướng phát triển một số lĩnh vực chủ yếu
- Nông nghiệp: Phấn đấu từ năm 2001-2010 ổn định nhịp độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản đạt bình quân từ 5,93% năm. Tỷ trọng GDP do ngành công nghiệp đóng góp giảm dần từ 51,3% năm 2000 xuống 33% năm 2010. Cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành trồng trọt, tăng dần tỷ trọng chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành ngành xuất khẩu có lợi nhuận cao.
Tăng giá trị trên 1 đơn vị diện tích đất nông nghiệp lên 1,4 lần vào năm 2005 và 1,8 lần vào năm 2010 so với năm 1998, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản giải quyết đầu ra nhằm kích thích sản xuất.
Tập trung nguồn lực để khai thác và phát triển kinh tế thuỷ sản trong đó xác định nuôi trồng là khâu đột phá, mở rộng đầu tư chiều sâu các cơ sở chế biến thuỷ sản xuất khẩu.
- Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Tập trung phát triển công nghiệp trọng điểm, chú trọng phát triển các cụm công nghiệp, phấn đấu tăng trưởng công nghiệp từ 2001-2010 đạt từ 14-16% đưa tỷ trọng đóng góp GDP tăng dần từ 13,44% năm 2000 lên 21% năm 2005 và 25% năm 2010. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển công nghiệp. Gắn quá trình phát triển công nghiệp với sự hình thành đô thị và đô thị hoá. Chú ý xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp để thu hút đầu tư.
- Các ngành dịch vụ: Khuyến khích các thành phần tham gia các hoạt động thương mại, từng bước mở rộng thị trường trong và ngoài nước. Liên doanh liên kết với các tổ chức thương mại với các tỉnh trong vùng và cả nước để trao đổi hàng hoá. Xây dựng khu thương mại cửa khẩu Cầu Treo gắn với khu kinh tế đường 8. Tổ chức khai thác những lễ hội đặc trưng của địa phương để phục vụ mục đích phát triển du lịch. Ðẩy mạnh hoạt động các loại dịch vụ: Vận tải, tài chính ngân hàng từ tỉnh đến huyện, xã, coi trọng các biện pháp để tăng nguồn thu. Phấn đấu đến năm 2010 giá trị xuất khẩu đạt khoảng 70-80 triệu USD.
- Kết cấu hạ tầng kinh tế chủ yếu: Từng bước xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo khả năng cho phép. Chú trọng giao thông nông thôn; xây dựng mạng lưới đường bộ hợp lý bao gồm các trục dọc, trục ngang và hành lang Ðông - Tây. Các tuyến đường ra biên giới, hệ thống đường ô tô về đến trung tâm các xã, cụm xã trong tỉnh.
Xây dựng 2 bến cảng Vũng Áng phục vụ nhu cầu xuất, nhập khẩu của khu vực Bắc Trung bộ và các nước lân cận. Xây dựng tuyến đường sắt Vũng Áng - Thà Khẹt trong hệ thống đường xuyên Á. Xin mở thêm tuyến đường sắt Thống Nhất qua thị xã Hà Tĩnh, xây dựng ga khách Hà Tĩnh. Nâng cao chất lượng phương tiện vận tải, tăng năng suất, giảm giá thành vận tải nhằm thoả mãn nhu cầu vận tải của tỉnh chất lượng ngày càng cao. Ðảm bảo an toàn giao thông, giảm ô nhiễm môi trường. Ðẩy mạnh phát triển nguồn điện đảm bảo dung lượng điện sử dụng đến năm 2010 là 378 triệu kw/h. Bảo vệ tốt nguồn nước để khai thác sử dụng tránh ô nhiễm đủ nước đáp ứng nhu cầu phát triển nông - công nghiệp, các ngành kinh tế khác và nước sinh hoạt của nhân dân ngày một tăng. Phấn đấu 80% dân số nông thôn được dùng nước sạch.
- Văn hoá xã hội:
Ðẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, coi sự nghiệp giáo dục - đào tạo là nhân tố quyết định nguồn nhân lực, nâng cao dân trí. Thông qua nhiều hình thức giáo dục cộng đồng, phối hợp nhiều môi trường giáo dục. Năm 2010 phấn đấu nâng cấp, kiên cố hoá 100% số trường lớp, đầu tư trang thiết bị thí nghiệm và hệ thống dịch vụ học đường.
Ðẩy mạnh xã hội hoá công tác y tế, lấy phòng bệnh làm chính, chăm sóc sức khoẻ ban đầu làm trọng tâm.
Thực hiện tốt công tác sinh đẻ có kế hoạch, ổn định tỷ lệ sinh thấp, từng bước giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
Thực hiện tốt các chương trình xoá đói giảm nghèo, thông qua các dự án tạo việc làm cho người lao động, đặc biệt đối với các hộ trong diện chính sách.
Khơi dậy truyền thống văn hoá dân tộc, truyền thống anh hùng trong đấu tranh dựng nước và giữ nước. Xây dựng cơ sở vật chất cho các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao từ tỉnh đến huyện, các trung tâm đến các xã, như công trình phục vụ công cộng, kết hợp với nhà văn hoá tạo thành cụm kinh tế kỹ thuật, văn hoá, xã hội.
- Môi trường: Khai thác tài nguyên phải gắn với việc xây dựng quy chế kiểm tra để phát triển theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Thực hiện tốt những quy định phù hợp với Luật bảo vệ môi trường mà Nhà nước đã ban hành.
- An ninh - Quốc phòng: Tăng cường giáo dục pháp luật, thực hiện pháp chế xã hội chủ nghĩa giáo dục ý thức cách mạng trong mọi tầng lớp nhân dân. Ðấu tranh ngăn ngừa, đẩy lùi các tệ nạn tham nhũng, buôn lậu, tệ nạn ma tuý, và các tội phạm khác. Thực hiện tốt chính sách Quốc phòng toàn dân, củng cố tăng cường lực lượng dân quân tự vệ ở các phường, xã, cơ quan xí nghiệp đủ mạnh ứng phó kịp thời với mọi tình huống xảy ra. Duy trì giữ gìn các công trình quốc phòng hiện có để sử dụng lâu dài và phát huy hiệu quả kinh tế gắn với quốc phòng.
2.Tóm tắt kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 - 2005
2.1. Mục tiêu phát triển
Tranh thủ thuận lợi, khắc phục khó khăn đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực hội nhập. Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Tích cực ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ. Chăm lo giải quyết các vấn đề bức xúc về việc làm, xoá đói giảm nghèo, chống tham nhũng và tệ nạn xã hội. Giữ vững ổn định chính trị đảm bảo quốc phòng - an ninh. Thực hiện từng bước vững chắc sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá theo tiến trình chung của đất nước.
2.2. Các mục tiêu cụ thể
- Phấn đấu đạt nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 8%. Phấn đấu tăng nhanh nguồn thu trên địa bàn. Tổng sản phẩm xã hội bình quân đầu người đạt trên 4,5 triệu đồng. Sản lượng lương thực bình quân đầu người đạt 400 kg. Kim ngạch xuất khẩu vào năm 2005 đạt từ 40 - 50 triệu USD.
- Tăng nhanh đầu tư phát triển toàn xã hội, hoàn thiện cơ bản về hạ tầng hỗ trợ đầu tư tạo điều kiện cho vùng kém phát triển để có điều kiện khai thác thế mạnh. Tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương, các tổ chức quốc tế và huy động vốn của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng, ưu tiên vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa.
- Tiếp tục đổi mới và lành mạnh hệ thống tài chính, tiền tệ, thí điểm và nhân rộng hình thức khoán chi, triệt để tiết kiệm, tăng tỷ lệ chi dành cho đầu tư phát triển. Ưu tiên cho vay giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo có hiệu quả thiết thực.
- Tiếp tục phát triển giáo dục, đào tạo toàn diện. Phấn đấu tỷ lệ học sinh trung học cơ sở đi học trong độ tuổi từ 75 - 80%. Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông đi học trong độ tuổi đạt trên 45%. Ða dạng hoá các hình thức đào tạo nghề, phấn đấu 20 - 25% số lao động trong độ tuổi được đào tạo. Triển khai đề án thành lập trường đại học bán công.
- Giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc về xã hội như giải quyết việc làm, giảm thời gian lao động nông nhàn. Thực hiện có hiện quả chương trình xoá đói giảm nghèo, giảm hộ nghèo đến năm 2005 còn dưới 10%.
- Xây dựng bộ máy Nhà nước vững mạnh, trong sạch đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả và trình độ công chức, đẩy lùi tệ quan liêu tham nhũng.
- Tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, ổn định chính trị, đảm bảo trật tự và an toàn xã hội, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.
2.3. Các giải pháp chủ yếu
a. Giải pháp chung:
+ Cân đối nguồn lực: Về đất đai chưa sử dụng và có khả năng khai thác, nguồn lao động hiện có, nguồn tài nguyên khoáng sản, các nguồn lực đã được tạo nên trong những năm qua và những nguồn lực mới có thể huy động từ Trung ương, từ bên ngoài.
Tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch các vùng kinh tế phân rõ 3 vùng: Ðồi núi, đồng bằng, ven biển để có chính sách phù hợp. Xác định và tập trung phát triển các vùng kinh tế trọng điểm. Cần có quy hoạch chi tiết để chỉ đạo thực hiện. Xây dựng và hoàn thiện các cơ chế chính sách.
b. Giải pháp cụ thể:
- Về nông nghiệp - nông thôn:
Chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu sản xuất: Nông, lâm, ngư. Phấn đấu tốc độ tăng giá trị tăng thêm bình quân hàng năm các ngành nông, lâm, ngư lần lượt là: 4%, 6%, 20% đến năm 2005. Cơ cấu nội ngành lần lượt là 8,4%, 6,5% và 13%. Tập trung thâm canh vùng trọng điểm lúa nước với diện tích 38.000 ha. Tập trung để đạt khâu giống 40 - 45% diện tích có giống năng suất cao. Cải tạo nâng cấp hoàn thiện hệ thống thuỷ nông.
Tăng nhanh diện tích trồng rừng đến năm 2005 trồng được 26.000 ha rừng tập trung, 65 triệu cây phân tán, đến năm 2005 độ che phủ đạt 43 - 45%.
Tập trung chỉ đạo xây dựng Xí nghiệp sản xuất giống thuỷ sản có chất lượng, kịp thời phục vụ các vùng nuôi trồng. Phấn đấu đến năm 2005 đạt 3.500 tấn với giá trị xuất khẩu 20 triệu USD.
- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:
Mục tiêu đặt ra cho kế hoạch 2001 - 2005 là tỷ trọng công nghiệp xây dựng đạt 20 - 22%. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hàng năm là từ 12 - 13%, giá trị tăng thêm 13%. Ðể đạt được mục tiêu trên phải thực hiện một số giải pháp sau:
+ Tập trung cao độ củng cố tiếp tục đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ tiên tiến.
+ Tăng cường khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp công nghiệp, phổ biến công khai các thủ tục xuống tận huyện xã.
+ Công khai phổ biến đến cơ sở các nội dung về chính sánh ưu đãi đầu tư của Nhà nước.
+ Phát huy và nâng cao năng lực tư vấn doanh nghiệp để đảm bảo khả năng cung cấp thông tin. Ðẩy mạnh tiến độ cổ phần hoá, bán khoán, cho thuê doanh nghiệp Nhà nước.
+ Khẩn trương chuẩn bị quy hoạch và chuẩn bị các điều kiện cho một số khu công nghiệp tập trung. Xây dựng mô hình điểm về khu tiểu thủ công nghiệp.
+ Triển khai thực hiện đầu tư, nâng cấp các nhà máy sản xuất sản phẩm công nghiệp chủ yếu và cơ sở sản xuất công nghiệp mũi nhọn.
+ Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng theo hướng chú trọng công nghiệp chế biến, công nghiệp nước sạch. Ðến năm 2005 cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp khai thác, chế biến, điện - nước, xây dựng lần lượt là: 13,3%, 42,1%, 7,7% và 36%.
- Về thương mại dịch vụ:
Mục tiêu phấn đấu đến năm 2005 kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 40 - 45 triệu USD trong đó thuỷ sản: 20 triệu USD. Các giải pháp cần thực hiện là:
+ Các chính sách, giải pháp để phát triển thị trường.
+ Tăng cường nhân lực kinh doanh trên thị trường đặc biệt là hoạt động xuất, nhập khẩu.
+ Củng cố và tăng cường tổ chức kinh doanh xuất, nhập khẩu.
+ Phát triển thương mại nhiều thành phần, xây dựng các trung tâm thương mại ở các huyện thị, cụm xã. Phấn đấu mức lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ tăng hàng năm là 11 - 14%.
+ Nâng cao chất lượng hàng hoá, tích cực mở rộng thị trường, khai thác có hiệu quả lợi thế khu cảng Vũng Áng, quốc lộ 8A đến năm 2005 giá trị xuất khẩu đạt: 40 - 50 triệu USD.
+ Nhập khẩu đáp ứng nhu cầu vật tư phân bón, tư liệu sản xuất và một số hàng tiêu dùng thiết yếu. Giá trị nhập khẩu tăng hàng năm từ 12 - 14%.
+ Phát triển các loại hình dịch vụ - du lịch biển ở Thiên Cầm, Thạch Hải, Xuân Thành, Ðèo Ngang. Phấn đấu doanh thu du lịch tăng từ 10 - 12% năm.
- Về giáo dục - đào tạo:
+ Ðến năm 2005 toàn tỉnh có 70% số trường có nhà học cao tầng với mục tiêu hoàn chỉnh các trường trung học phổ thông, các trường dạy nghề.
+ 100% số trạm xá xã có bác sỹ.
- Tiếp tục tăng cường xây dựng kết cấu hạ tầng đảm bảo chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội: Thực hiện tốt chương trình nước sạch nông thôn; tiếp tục phát động phong trào giao thông nông thôn, nhựa hoá đường liên xã, liên thôn; từng bước hoàn chỉnh hệ thống bê tông hoá kênh mương; hoàn chỉnh trường tầng cho giáo dục chuyên nghiệp, trung tâm giáo dục chính trị và trung học phổ thông; nâng cao chất lượng hệ thống điện, cải tạo lưới điện, giảm tổn thất điện mức thấp nhất; tăng cường kiên cố hoá trạm y tế xã, có phòng sản đủ tiêu chuẩn 100% cho số xã; tập trung chỉ đạo xây dựng nhà văn hoá xã đến năm 2005 đạt 40% số xã, hoàn thành nhà văn hóa, khu thể thao tỉnh; mở rộng mạng lưới thông tin 70 - 80% số xã có bưu điện văn hoá.


Các số liệu, tài liệu sử dụng được lấy từ trang thông tin điện tử trực thuộc Ủy Ban Dân Tộc
 
#12
Số liệu cũ hết rồi, nên đưa một số chỉ tiêu từ 2010 trở đi, xem mấy lãnh đạo quê ta có chiến lược thế nào.
 

asrichle

** Nỏ Có Chi**
#13
Mạn phép các bác lôi cấy ni lên và cho mình hỏi 1 vài câu :
Hiện Hà Tĩnh chỉ có duy nhất 1 dân tộc thiểu số là DT CHỨT đúng không các bạn hay còn có những dân tộc khác nữa ?