• Các thành viên chú ý, NHT trở lại vẫn giữ những thông tin cũ, bao gồm username và mật khẩu. Vì vậy mong mọi người sử dụng nick name(hoặc email) và mật khẩu cũ để đăng nhập nhé. Nếu quên mật khẩu hãy vào đây Hướng dẫn lấy lại mật khẩu. Nếu cần yêu cầu trợ giúp, xin liên hệ qua facebook: Le Tuan, Trân trọng!

Hà Tĩnh - đất nước, con người

Đá

Nơi ấy bình yên.....
#1
Hà Tĩnh ở Bắc miền Trung Việt Nam, toạ độ 17053’50’’- 18045’40’’ vĩ Bắc và 105005’50’’ – 106029’40’’ kinh Đông, thiên nhiên phân rõ bốn mùa, nhưng cả bốn mùa đều tươi đẹp – vì vừa có sơn thuỷ hữu tình, vừa được bàn tay con người tạo dựng.

Ở vùng đồng bằng, xen giữa những làng cày, làng vạn, còn có hàng trăm làng thủ công , làng nghề truyền thống nổi tiếng: Làng mộc Xa Lang, Thái Yên, Quyết Nhược; làng rèn Minh Lang (Trung Lương), Vân Chàng; làng gốm Cẩm Trang; làng dệt (lụa, vải) Việt Yên Hạ, Yên Hồ, Đồng Môn; làng kim hoàn Nam Trị, Ngân Tượng; làng đúc đồng Đức Lâm; làng làm bồ tre Đan Chế…

Dãy Dăng Màn, với hàng ngàn khe suối, là đầu nguồn của các rào, các sông: Ngàn Phố, Ngày Sâu…Thiên nhiên vừa hùng vĩ, tươi đẹp lạ lùng, vừa là kho tài nguyên vô giá. Khe Vũ Môn “có thác ba bậc”…, ngoài trăm dặm trông như một làn khói trắng, vắt trên núi xanh , tương truyền hàng năm cứ đến mồng tám tháng tư, cá ngáy vượt được khe này thì hoá rồng…Ao nước mặn (Hàm Trĩ) “ Giữa cánh đồng dưới núi Bằng Bản…, chu vi chừng ba bốn trượng, nước sâu không thẻ lường, vị nước rất mặn”…, là dấu vết của biển từ đầu đại cổ sinh. Khe Nước Sốt (Nậm Chốt) “Nước hơi đen, hơi bốc lên như khói” là suối khoáng nóng đến 750.

Đặc biệt, rừng Vũ Quang là một trong nhưng khu bảo tồn thiên nhiên lớn nhất của cả nước có hệ sinh thái hết sức phong phú.

Dãy Trà Sơn như một tiền duyên của dãy Dăng Màn, từ hữu ngạn ngã ba Tam Soa, chạy qua vùng thượng Can Lộc, vào tận Thạch Hà, nối với vùng núi Mỹ Duệ, Dư Lạc (Cẩm Xuyên), Vọng Hiệu (Kỳ Anh). Bao quanh vùng hồ - công trình đại thuỷ nông Kẽ Gỗ - là vùng rừng già trên đất ba huyện Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Hương Khê, là khu bảo tồn Quốc gia thứ hai ở Hà Tĩnh.

Nằm rải rác giửa đồng bằng và ven biển vẫn là núi…

Dãy “Hồng Lĩnh 99 ngọn” kéo dày 30 km từ bờ Nam sông Lam đến cửa Động Gián, xưa từng được coi là một trong 21 danh sơn nước Việt, và cùng với Lam Giang là biểu tượng của xứ Nghệ - Nghệ Tĩnh. Dãy Hoành Sơn, chiếm 1.500 km2, nối vùng núi Vọng Liệu (Kỳ Anh) – Tuyên Hoá (Quảng Bình) ra tận Mũi Đao, Mũi Độc trên bờ biển Đông, với Đèo Ngang (256m) “danh thắng xưa nay”.
Sông Lam – Ngàn Cả - Là con sông lớn ở Bắc Trung Bộ, hết địa phận huyện Nam Đàn chảy giữa các huyện Hưng Nguyên, Nghi Lộc (Nghệ An) và Đức Thọ, Nghi Xuân, thị xã Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh) rồi đổ ra cửa Hội

Hai con sông Ngàn Sâu (121km) từ Hương Khê, Vụ Quang; và Ngàn Phố(69km) từ Hương Sơn xuống đến ngã ba Tam Soa Thì hội với sông La, chảy qua 15km trên vùng đồng bằng Đức Thọ, và đổ vào sông Lam ở ngã ba Phủ. La Giang cùng với Tùng Lĩnh - một ngọn núi nhỏ trên núi Tam Soa, xưa nay là danh thắng của Hà Tĩnh.

Những ngọn núi nằm sát bờ biển đều tạo ra quang cảnh thiên nhiên kỳ thú. Riêng dãy Cao Vọng (Kỳ Anh) vươn ra biển đến 8 km, điểm mút là Mũi Ròn. Phía Nam là Vũng Môn (ở làng Phác Môn) và phía Bắc núi là Vũng Áng (ở làng Vũng Áng) đang được xây dựng thành một cảng biển nước sâu quan trọng. Cách bờ không xa vùng biển Cẩm Xuyên, Kỳ Anh có một số đảo nhỏ: hòn Bơớc, hòn Én, hòn Sơn Dương, hòn Con Chim. Yến Sào hòn Én cùng với tôm hùm, sò huyết là những đặc sản của vùng biển Hà Tĩnh.

Biển Hà Tĩnh có tới 267 loài hải sản quý thuộc 90 họ: cá, tôm, mực…, trong đó có 60 loài có giá trị kinh tế cao. Nguồn hải sản phong phú và truyền thống chế biến nước mắm lâu đời, tạo nên tiếng tăm cho nước mắm Cương Gián, Nhượng Bạn, Kim Đôi… hoặc những làng muối lâu đời: Hộ Độ, Thiện Trị.

Tỉnh Hà Tĩnh được thiết lập năm Tân Mão, niên hiệu Minh Mệnh thứ 12 (1831). Tỉnh thành được đặt tại xã Trung Tiết - huyện Thạch Hà – nay là thị xã Hà Tĩnh.

Từ thời tiền sử con người đã sinh sống trên vùng đất này. Họ là chủ nhân các di chỉ văn hoá khảo cổ văn hoá Quỳnh Văn, văn hoá Bàu Tró (Thời đại đồ đá), và các di chỉ thuộc văn hoá Đông Sơn (thời kim khí: đồng, sắt)…

Cùng với các di chỉ khảo cổ, cón có nhiều truyền thuyết về thời đại Hùng Vương, đậm nhất là chuyện (kinh) Dương Vương lấy nàng Thần Long, lập đô ở ấp Thúc Lĩnh (Ngàn Hồng) và sinh con trưởng là Long Vương (tức Lạc Long Quân). Về sau, Long Vương ra coi việc nước ở vùng Bạch Hạc, rồi lập đô ấp mới ở Nghĩa Lĩnh – Hy Cương…

Lịch sử đất này từng là tiền đồ phía Nam của nước Việt cổ, lại là hậu cứ của cuộc chống xâm lược phương Bắc, phương Tây.

Vùng Nam sông Lam đã là một căn cứ chống quân đô hộ nhà Đường của hoàng tử con thứ vua Mai ở thế kỷ VIII; là “ thủ đô kháng chiến” của vua Quang Trung, nhà hậu Trần; là “đất dừng chân” của nghĩa quân Lam Sơn chống quân Minh đầu thế kỷ XV; là trung tâm của phong trào Cần Vương chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX; là ngọn lửa sáng của cách mạng Duy tân và Xô Viết Nghệ Tĩnh đầu thế kỷ XX; lại là “an toàn khu” của cuộc kháng chiến chống Pháp, là đất dung tuyến của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước…

Rất nhiều tên đất đã trở thành địa danh lịch sử: Mai Phụ, Động Choác, Tiên Hoa, Lục Niên, Vụ Quang, ngã ba Đồng Lộc…

Gắn với các địa danh lịch sử là tên tuổi các anh hùng cứu quốc: Mai Thúc Loan, Đặng Tất, Đặng Dung, Nguyễn Biểu, Nguyễn Biên, Nguyễn Tuấn Thiện, Trần Duy, Phan Đình Phùng, Lê Ninh, Cao Thắng…, các chiến sĩ yêu nước và cách mạng: Lê Văn Huân, Ngô Đức Kế, Nguyễn Hàng Chi, Đậu Quang Lĩnh, Trần Phú, Hà Huy Tập, Lê Duy Điếm, Lý Tự Trọng, Phan Đình Giót… Và với Truyền thống yêu nước, tinh thần thượng võ, hàng vạn anh hùng đã bỏ mình dưới cờ nghĩa, trên chiến trường, trong tù ngục suốt hàng vạn năm vì độc lập tự do. Tuy nhiên từ lâu người ta biết đến vùng đất này qua hình ảnh “ông đồ Nghệ” lắm chữ, giỏi văn chương.

Ở đây đã từng có những tấm gương ham học, những con người học giỏi được xếp vào loại “Tràng An tứ hổ”, “An Nam ngũ tuyệt”, “Nghệ An tứ hổ”, “Hạc Lập kế quần”…

Ý Chí, trí tuệ của vùng đất này đã tạo nên và hiến cho đất nước nhiều tài năng lớn. Những Trần(Sử) Hy Nhan, Nguyễn Nghiễm… tinh thông sử học; Nguyễn Thiếp giỏi y học; Lê Hửu Trác “Thần y”(gốc Hải Dương); Bùi Cầm Hổ, Nguyễn Công Trứ có tài kinh bang kế thế, Nguyễn Huy Oánh, Bùi Dương Lịch, Phan Nhật Tĩnh học giỏi và là nhà giáo có uy tín; và Nguyễn Du – thi bá của muôn đời.

Thời hiện đại, vùng đất này cũng là nơi sinh trưởng của Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Khắc Diệu, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Đức Từ Chi, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đình Tứ và nhiều tên tuổi khác.

“Công đức ư dân, danh tại sử” – Tên tuổi các anh hùng hào kiệt, các doanh nhân , tuấn sỹ khong những được chép vào những bộ sử bằng chữ viết, bằng lời ca, mà cả những bộ sử bằng đá, bằng gạch. Những đền, miếu, tượng, bia, những công trình lưu niệm…Đó là hàng nghìn di tích lịch sử và văn hoá từng tồn tại trên mảnh đất này.

Ngày nay các hiện vật vô giá ấy không còn nhiều, nhưng những toà đền Đặng Quốc Công và Đặng Văn Chương, Nghĩa vương Nguyễn Biểu…, những ngôi miếu Tam toà thánh mẫu, chế Thắng phu nhân…, những ngôi chùa: Hương Tích, Diên Quang (chùa Am); những công trình kiến trúc- mỹ thuật: đền Tam Lang (Hậu Lộc), đền Thánh Thợ (Thái Yên), đền Chiêu Trưng Đại Vương (Cửa Sót)…, những phế tích luỹ cũ Đèo Ngang, trận lỵ Dinh Cầu, phố cổ Phù Thạch…, một khu bảo tồn thiên nhiên Vụ Quang, một Ngã Ba Đồng Lộc, một khu lưu niệm Nguyễn Du, một nhà văn hoá Xuân Diệu… cũng đủ để ta hiểu và yêu thiên nhiên, con người Hà Tĩnh.
( theo sở thương mại và du lịch Hà Tĩnh )​
 

huyle1975

New Member
#2
Hà Tĩnh

- Các nhà khảo cổ học gọi giai đoạn của người vượn sinh sống trong buổi bình minh của lịch sử là giai đoạn sơ kỳ đá cũ. Theo Lịch sử Hà Tĩnh (tập 1, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999) thì thời ấy trên đất Hà Tĩnh đã có người vượn sinh sống. Nhiều di vật tìm thấy ở huyện Hương Sơn, Hương Khê, Nghi Xuân chứng minh cư dân văn hoá Sơn Vi, văn hoá Quỳnh Văn, văn hoá Bàu Tró tồn tại và phát triển trên đất này....

... Đại Việt sử ký toàn thư (Quyển I) chép: “Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang, nước này Đông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Nam giáp Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành (nay là Quảng Nam) chia nước làm 15 bộ: Giao Chỉ, Châu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức”. Theo sách Thuỷ Kinh chú Cửu Dương Thư thì “Giao Chỉ ở miền quận Cửu Đức” (tức miền Hà Tĩnh).
Từ đấy mà xét, xa xưa miền Hà Tĩnh đã nằm trong lãnh thổ nước Văn Lang, Âu Lạc.
Hàng ngàn năm, đất này là “đất thắng địa”, “trấn địa”, là “trại”, là phiên dậu” của nước non nhà. Từ thời Triệu Đà đến năm 938 Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán, dân Hà Tĩnh vừa quật cường chống trả ngoại xâm từ Bắc đánh vào, quân Chămpa, Chân Lạp từ Nam đánh ra. Lịch sử Hà Tĩnh gần như là lịch sử của các cuộc chiến tranh. Thực tế ấy, cùng với vị trí địa lý tạo nên sự giao thoa của giao thông thuỷ, bộ, tạo nên một Hà Tĩnh gồm nhiều thành phần nhân chủng với nhiều tính cách đa dạng, phong phú, và là nơi lắng đọng các vỉa tầng văn hoá từ Nam ra, Bắc vào.
Có thể nói, Hà Tĩnh là đất “giang sơn tụ khí” không chỉ theo nghĩa địa lý phong thuỷ mà xét về trầm tích văn hoá giống nòi qua các thời đại ở từng vùng, miền. Cũng như đất Kinh Bắc, đất Thành Nam, đất Thăng Long, đất Quảng… đất Hà Tĩnh sinh thành và hun đúc nên nhiều bậc hiền tài, và đặc biệt cư dân hiếu học, đã sáng tạo ra một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú và nhiều giá trị di sản văn hoá vật thể độc đáo, có bản sắc riêng.
Do thiên tai, giặc giã triền miên và cả những sai lầm của con người,nhiều di tích đã trở thành phế tích, như trấn lỵ Dinh Cầu ở Kỳ Anh, đền Nen ở Thạch Hà, thậm chí có di tích đã biến mất theo thời gian như phố cổ Phù Thạch ở Đức Thọ, chùa Nghèn ở Can Lộc, đền thờ Tổ sư Giáo phường Cổ Đạm, văn miếu ở thị xã Hà Tĩnh, nhiều di sản văn hoá phi vật thể như truyền thuyết, giai thoại, chuyện cười dân gian,… bị rơi rụng theo trí nhớ và tuổi tác của các nghệ nhân.

2 - Công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hoá ở Hà Tĩnh thực sự mới được sự quan tâm từ ngày tái lập tỉnh (1991). Nghị quyết Tỉnh Đảng bộ Hà Tĩnh khoá XIII, XIV, XV, XVI, nghị quyết các kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh đều xác định vị trí quan trọng của di sản văn hoá trong sự nghiệp “xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Ngành văn hoá thông tin đã tập trung điều tra di sản văn hoá trên phạm vi toàn tỉnh và tham mưu cho ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các cấp, các ngành tu bổ tôn tạo và khai thác các di tích lịch sử văn hoá, danh thắng; sưu tầm, bảo lưu truyền bá các tri thức dân gian, lễ hội dân gian, các tác phẩm văn nghệ dân gian, văn học nghệ thuật. Phòng di sản, bảo tàng, các ban quản lý di tích Nguyễn Du, Trần Phú thuộc ngành văn hoá thông tin; Ban quản lý di tích Ngã ba Đồng Lộc thuộc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Ban quản lý di tích chùa Hương thuộc huyện Can Lộc; Ban quản lý di tích Hà Huy Tập thuộc huyện Cẩm Xuyên đã thực sự lo toan, gắn bó, phối hợp với các gia đình dòng họ, các địa phương đánh giá thực trạng di tích, tìm giải pháp tôn tạo, phát huy giá trị di tích.
Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội, chính trị xã hội nghề nghiệp, xã hội nghề nghiệp đã góp phần quan trọng cùng với đội ngũ cán bộ văn hoá thông tin đẩy mạnh quá trình xã hội hoá, bảo tồn và phát huy di sản văn hoá. Có thể nói di sản văn hoá Hà Tĩnh sống dậy, phát huy giá trị tự có của mình, một phần quan trọng nhờ các phong trào xã hội sâu rộng ở Hà Tĩnh trong thời gian qua, như “Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, “xây dựng nông thôn mới”, “làng văn hoá, làng sức khoẻ”, “xoá đói giảm nghèo”.
Cùng với phát huy nội lực, công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hoá ở Hà Tĩnh đã được sự quan tâm hỗ trợ tích cực của các cục, vụ, viện, Bộ Văn hoá - Thông tin từ chủ trương, nghiệp vụ đến kinh phí; các cơ quan chuyên ngành ở Trung ương, các nhà nghiên cứu văn hoá, các văn nghệ sỹ trong cả nước, những đề tài nghiên cứu văn hoá, những công trình văn hoá xây dựng, tôn tạo, tu sửa… trong thời gian vừa qua trên đất Hà Tĩnh đều hội tụ tình cảm, trí tuệ của giới trí thức, cán bộ công chức ở Trung ương và địa phương.
Qua điều tra, phân loại bước đầu, Hà Tĩnh có hơn 400 di tích, hiện có 62 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng cấp quốc gia, 52 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh. Công tác đầu tư tu bổ tôn tạo các khu di tích lớn như: Khu di tích đại thi hào Nguyễn Du, Khu lưu niệm và mộ Tổng Bí thư Trần Phú, Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, Nguyễn Công Trứ, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, đền thờ và mộ Chiêu Đại vương Lê Khôi, Khu lưu niệm Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh, Khu lưu niệm Tổng Bí thư Hà Huy Tập,… đã được sự giúp đỡ tích cực của Bộ Văn hóa - Thông tin, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, của các nhà chuyên môn và sự quan tâm chỉ đạo sát sao của tỉnh. Nhờ vậy các công trình này bước đầu đã phát huy tính tích cực của các giá trị vào cuộc sống xã hội. Một số hoạt động thăm dò khai quật khảo cổ học ở Thạch Lạc, mộ cổ Thiên Lộc bước đầu có kết quả đáng mừng. Nhận biết các giá trị văn hoá phi vật thể sẽ mất mát theo thời gian, công tác sưu tầm, bảo tồn các giá trị văn nghệ dân gian, lễ hội dân gian, bí quyết nghề truyền thống, văn hoá ẩm thực, tác phẩm văn học nghệ thuật,… đã được quan tâm đẩy mạnh và thu nhiều kết quả đáng ghi nhận, v.v… Mấy năm qua Sở Văn hóa - Thông tin đã tham mưu với ủy ban nhân dân tỉnh phục hồi và phát triển nhiều làng nghề truyền thống như: Nghề mộc Thái Yên, nghề rèn Trung Lương, nghề làm nước mắm Cẩm Nhượng, làm nón lá Thạch Việt… Nhiều công trình sưu tầm, nghiên cứu công phu, hàng ngàn trang, đã được xuất bản, như: Truyện dân gian Hà Tĩnh, Dân ca Nghệ Tĩnh, Lễ hội dân gian Hà Tĩnh, Năm thế kỷ văn Nôm người Nghệ, Văn Hà Tĩnh thế kỷ XX, thơ Hà Tĩnh thế kỷ XX, Di tích danh thắng Hà Tĩnh, Danh nhân Hà Tĩnh... Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về nghiên cứu văn hoá phi vật thể, Sở Văn hoá - Thông tin đã phối hợp với Viện Văn hoá Nghệ thuật triển khai và đã nghiệm thu các đề tài: Hát Sắc bùa ở Kỳ Anh, Hò chèo cạn ở Nhượng Bạn, Làng Việt cổ ven biển Cương Gián, Ví phường vải Trường Lưu, Hát giặm Thạch Hà. Cuối năm 2005 đầu năm 2006, phối hợp với Viện Âm nhạc triển khai công trình nghiên cứu Ca trù Cổ Đạm để trình UNESCO công nhận di sản văn hoá phi vật thể và truyền khẩu nhân loại. Cùng với công tác khai thác, sưu tầm, nghiên cứu nói trên, ngành văn hoá thông tin đã phối hợp với các địa phương, các tổ chức liên quan phục hồi nhiều lễ hội truyền thống: Lễ hội chùa Hương Tích (18/2 Âm lịch), Lễ hội đền Chiêu Trưng Đại vương Lê Khôi (1,2,3/5 Âm lịch), Lễ hội đền Chợ Củi (15/10 Âm lịch), Lễ hội Sĩ - Nông - Công - Thương, Lễ tri ân phụ mẫu, Lễ báo ân,… Phục dựng và nhân rộng hát chèo Kiều, ví đò đưa, hát ca trù,…

3 - Tuy đã có nhiều nỗ lực cố gắng, nhưng di sản văn hoá đa dạng, phong phú của Hà Tĩnh đang đứng trước nhiều thách thức: Kinh phí hạn hẹp, năng lực nghiên cứu chuyên môn của cán bộ văn hoá hạn chế, kỹ thuật chưa phát triển trước sự xuống cấp của các di sản lịch sử văn hoá, sự biến dạng của danh lam thắng cảnh do tác động của môi trường và xu thế đô thị hoá, khả năng tổ chức đầu tư nguồn lực cho công tác bảo tồn, lưu trữ, lưu truyền văn hoá phi vật thể chưa toàn diên, liên tục và có hiệu quả trước sự mất mát diễn ra từng ngày do sự lấn át của văn hoá nghe, nhìn, sự bàng quan của con người và sự mai một trí nhớ của các nghệ nhân.
Công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hoá ở Hà Tĩnh vì thế còn nhiều vấn đề phải quan tâm: Nâng cao sự nhận thức của các cấp uỷ Đảng và chính quyền, của mỗi người dân về vị trí, vai trò di sản văn hoá trong đời sống văn hoá của chính mình và trong sự phát triển kinh tế xã hội; tăng cường tuyên truyền phổ biến Luật di sản văn hóa sâu rộng, hoạch định chính sách, đầu tư thích đáng cho công việc bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hoá gắn với phát triển du lịch; và nữa, vấn đề tâm huyết, năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ hoạt động văn hoá.
Làm văn hoá trên đất giàu truyền thống văn hoá, chúng tôi luôn tin tưởng di sản văn hoá ở Hà Tĩnh ngày càng được bảo tồn và phát huy giá trị.
 

huyle1975

New Member
#3
Vị trí

Hà Tĩnh trải dài từ 17°54’ đến 18°50’ vĩ Bắc và từ 103°48’ đến 108°00’ kinh Đông. Phía bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía tây giáp nước Lào, phía đông giáp biển Đôn
Địa hình

Hà Tĩnh cách Hà Nội 340 km, ở phía đông dãy Trường Sơn với địa hình hẹp, dốc và nghiêng từ tây sang đông. Phía tây tỉnh là những dãy núi cao 1.500 m, đỉnh Rào Cọ 2.235 m, phía dưới là vùng đồi thấp giống bát úp; tiếp nữa là dải đồng bằng nhỏ hẹp chạy ra biển; sau cùng là những bãi cát ven biển cùng với nhiều vũng, vịnh,tiêu biểu là cảng biển nước sâu Vũng Áng và bãi biển Thiên Cầm.

Khí hậu

Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, ngoài ra Hà Tĩnh còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp của miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc, nên thời tiết, khí hậu rất khắc nghiệt. Hàng năm, Hà Tĩnh có hai mùa rõ rệt:

* Mùa mưa: Mưa trung bình hằng năm từ 2500 ly đến 2650 ly. Hạ tuần tháng 8, tháng 9 và trung tuần tháng 11 lượng mưa chiếm 54% tổng lượng mưa cả năm.
* Mùa khô: Từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau. Đây là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam (thổi từ Lào) khô, nóng, lượng bốc hơi lớn.

Lịch sử

* Thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hà Tĩnh thuộc bộ Cửu Đức
* Thời nhà Hán, thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân
* Thời nhà Ngô, thuộc Cửu Đức
* Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê: gọi là Hoan Châu
* Năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An
* Từ năm 1490 gọi là xứ Nghệ An
* Thời Tây Sơn, gọi là Nghĩa An trấn
* Nhà Nguyễn năm Gia Long nguyên niên lại đặt làm Nghệ An trấn
* Năm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam).
* Năm Tự Đức thứ 6 (năm 1853) đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo, hợp vào Nghệ An thành An Tĩnh;
* Năm thứ 29 (năm 1876) lại đặt tỉnh Hà Tĩnh như cũ.
* Từ năm 1976-1991, Nghệ An và Hà Tĩnh là một tỉnh và được gọi là tỉnh Nghệ Tĩnh
* Năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay
* Năm 1992, Thị xã Hồng Lĩnh thuộc tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở: thị trấn Hồng Lĩnh; xã Đức Thuận, xã Trung Lương; một phần xã Đức Thịnh thuộc huyện Đức Thọ; các xã Đậu Liêu và Thuận Lộc thuộc huyện Can Lộc.
* Năm 2000, huyện Vũ Quang được thành lập trên cơ sở tách 6 xã thuộc huyện Đức Thọ, 5 xã thuộc huyện Hương Khê và 1 xã thuộc huyện Hương Sơn.
* Năm 2007, huyện Lộc Hà được thành lập trên cơ sở 7 xã ven biển của huyện Can Lộc và 6 xã ven biển của huyện Thạch Hà.

Dân cư

Hà Tĩnh có 1.286.700 người[cần dẫn nguồn], trên 20 dân tộc cùng sinh sống, nhưng chủ yếu là người Kinh; các dân tộc khác, mỗi dân tộc chỉ có vài trăm hoặc vài chục người[cần dẫn nguồn].

Đất

Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên 6.055,7 km². trong đó:

* Đất ở: 6.799 ha
* Đất nông nghiệp: 98.171 ha
* Đất lâm nghiệp: 240.529 ha
* Đất chuyên dùng: 45.672 ha
* Đất chưa sử dụng: 214.403 ha

Sông

Hà Tĩnh có nhiều sông nhỏ và bé chảy qua, con sông lớn nhất là sông La và sông Lam, ngoài ra có con sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Ngàn Trươi, Rào Cái, Tổng chiều dài các con sông khoảng 400 km, tổng sức chứa 13 tỷ m³. còn hồ Kẻ Gỗ, hồ Sông Rác, hồ Cửa Thờ Trại Tiểu...ước 600 triệu m³ [2].

Tài nguyên biển

Hà Tĩnh có bờ biển dài (?). Trữ lượng nhiều khoảng 85,8 nghìn tấn cá, 3,5 nghìn tấn mực và 600 tấn tôm [3]

Rừng

Tỉnh Hà Tĩnh có trên 300.000 ha rừng và đất rừng [cần dẫn nguồn], trong đó diện tích rừng chiếm 66%, còn lại chưa có rừng, gồm trên 100.000 ha đất trống đồi núi trọc, đất bụi và bãi cát. Rừng tự nhiên (164.978 ha)[cần dẫn nguồn] hiện chủ yếu phân bố ở vùng núi cao, xa các trục giao thông, trong đó rừng sản xuất kinh doanh 100.000 ha, rừng phòng hộ 63.000 ha, độ che phủ 38% so với diện tích đất tự nhiên. Rừng giàu chỉ chiếm 10%, rừng trung bình 40%, còn lại 50% là rừng nghèo kiệt. Đất không có rừng 151.000 ha, chiếm 24,4% diện tích tự nhiên của tỉnh, trong đó một số diện tích ở sườn đồi đang bị xói mòn. Trữ lượng gỗ 20 triệu m³[cần dẫn nguồn], hàng năm khai thác chừng 2-3 vạn m³; những năm gần đây thực hiện chính sách đóng cửa rừng nên lượng gỗ khai thác hàng năm đã giảm nhiều.Thực vật của rừng đa dạng và phong phú, có trên 86 họ và trên 500 loại cây dạng thân gỗ[cần dẫn nguồn], trong đó có nhiều loại gỗ quý như: lim, sến, táu, mật, đinh, gõ, pơmu và các loại động vật quý hiếm như: voi, hổ, báo, vượn đen, sao la.

Hà Tĩnh có khu vườn quốc gia Vũ Quang rộng 56 nghìn ha với 307 loài thực vật bậc cao thuộc 236 chi và 99 họ, 60 loài thú, 187 loài chim, 38 loài bò sát, 26 loài lưỡng cư và 56 loài cá[cần dẫn nguồn]. Đặc biệt, ở rừng Vũ Quang đã phát hiện ra sao la và mang lớn là hai loại thú quý hiếm chưa có tên trong danh mục thú của thế giới [4].

Hành chính

Hà Tĩnh có 12 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 10 huyện với 259 xã, phường và thị trấn:

* Thành phố Hà Tĩnh (tỉnh lỵ)
* Thị xã Hồng Lĩnh
* Huyện Cẩm Xuyên
* Huyện Can Lộc



* Huyện Đức Thọ
* Huyện Hương Khê [5]
* Huyện Hương Sơn
* Huyện Kỳ Anh



* Huyện Nghi Xuân
* Huyện Thạch Hà
* Huyện Vũ Quang[6]
* Huyện Lộc Hà (mới thành lập 7/2/2007).

Kinh tế

Cơ cấu kinh tế (năm nào?):

* Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản: 42,5%
* Công nghiệp, xây dựng: 21,5%
* Dịch vụ: 36%

* GDP/người: 4.579.000 VND/năm (2005)
* Tốc độ tăng trưởng GDP: trung bình 8% trong 5 năm (2000-2005)

Văn hóa

Hà Tĩnh là một vùng đất nằm trên dải đất miền Trung thiên nhiên không mấy ưu đãi, nhưng lại được coi là nơi "địa linh nhân kiệt" [7], [8]. Nhiều làng quê ở Hà Tĩnh nổi tiếng văn chương, khoa bảng và anh hùng [9].

Núi Hồng Lĩnh với 99 ngọn cùng sông Ngàn Phố, sông Ngàn Sâu và sông La, sông Lam là nguồn cảm hứng cho các thế hệ thi nhân, nhạc sĩ. Núi Hồng Lĩnh là một trong số các địa danh được khắc vào Bách khoa thư cửu đỉnh hiện đang đặt tại cố đô Huế.

Phía đông Hồng Lĩnh là làng Tiên Điền của đại thi hào Nguyễn Du, tác giả của Truyện Kiều. Phía tây nam núi Hồng lĩnh là làng "Bát cảnh Trường Lưu" của dòng họ Nguyễn Huy. Hai làng văn hiến ở hai sườn đông và tây núi Hồng Lĩnh ấy đã tạo nên một Hồng Sơn văn phái với những tác phẩm tiêu biểu như Hoa tiên (của Nguyễn Huy Tự), Mai Đình mộng ký (của Nguyễn Huy Hổ), Truyện Kiều.

Các làng Thu Hoạch, Trường Lưu, Tiên Điền, Uy Viễn, Đông Thái, Yên Hội, Gôi Mỹ, Thần Đầu, Trung Lễ, Bùi Xá, Ích Hậu, Trung Lương, Ân Phú... nổi danh về truyền thống học hành, khoa bảng và văn chương [10].

Đây là quê hương của các danh nhân như vua Mai Hắc Đế, Trạng nguyên Đào Tiêu, nhà sử học Sử Hy Nhan (đời nhà Trần), của hai vị tướng Đặng Tất và Đặng Dung, quê hương của Nguyễn Biểu (nhà ngoại giao thời nhà Trần và tác giả bài thơ ăn cỗ đầu người khi đi sứ), Bảng nhãn Lê Quảng Chí, Bảng nhãn Trần Bảo Tín, thầy địa lý Tả Ao, quê ngoại của danh y Hải Thượng Lãn ÔngLê Hữu Trác (thời Hậu Lê), của Ngự sử Bùi Cầm Hổ (thời Lê sơ), Tam nguyên Hoàng giáp Tể tướng lục bộ Nguyễn Văn Giai (đầu đời Lê trung hưng), La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (quân sư tối cao của Quang Trung), của nhà bác học Phan Huy Chú, nhà ngoại giao Phan Huy Ích, của đại doanh điền- nhà thơ Nguyễn Công Trứ, của nhà sử học Trần Trọng Kim (thủ tướng đầu tiên của Chính phủ Đế quốc Việt Nam hay Việt Nam nói chung), của nhà yêu nước Phan Đình Phùng, của các nhà cách mạng Trần Phú và Hà Huy Tập (Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương), quê hương của nhà khoa học Hoàng Xuân Hãn, nhà toán học Lê Văn Thiêm, nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện, nhà thơ Xuân Diệu, nhà thơ Huy Cận (Cù Huy Cận), danh họa Nguyễn Phan Chánh, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Đổng Chi, nhà vật lý hạt nhân Nguyễn Đình Tứ, nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi, các nhà sử học Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm, nhà khảo cổ học Hà Văn Tấn, v.v.

Hà Tĩnh còn có nhiều làng văn nghệ nổi tiếng trong vùng như: làng hát ca trù Cổ Đạm, chèo Kiều Xuân Liên, hát ví phường vải Trương Lưu, hò ví dặm Đan Du, Phong Phú... Nhiều làng nền nếp, phong lưu có nhiều lễ hội, hương ước, phong tục như: Kim Chùy, Hội Thống, Đan Trường, Kim Đôi, Phù Lưu Thượng... Các làng truyền thống với những giọng hò nổi tiếng quanh núi Hồng Lĩnh, ven dòng sông Lam, sông La, sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Phố đã để lại nhiều thơ văn và trước tác.

Du lịch

* Bãi biển Thiên Cầm, Xuân Thành, Chân Tiên
* Khu du lịch sinh thái hồ Kẻ Gỗ, suối nước nóng Sơn Kim
* Chùa Hương tích núi Hồng

Di tích

* Khu di tích lich sử Ngã ba Đồng Lộc
* Khu lưu niệm đại thi hào Nguyễn Du
* Khu di tích đại danh y Hải Thượng Lãn Ông
* Đền thờ Nguyễn Biểu:
* Đền thờ Song Trạng
* Mộ Song Trạng ở Ân Phú
* Đền thờ Bùi Cầm Hổ
* Mộ Phan Đình Phùng
* Nhà thờ Phan Đình Phùng
* Khu lưu niệm Trần Phú
* Nhà thờ và mộ Lê Bôi
* Đền thờ Lê Quảng Ý và Lê Quảng Chí
* Nhà thờ Nguyễn Công Trứ
* Đình Hội Thống
* Đền Chiêu Trưng
* Đền Củi: thờ Đức Hoàng Mười
* Chù Am
* Điện thờ Lê Triều Hoàng Hậu ở Ân Phú với 7 sắc phong
* Đền Võ Miếu

Theo Wikimedia
 
#4
Hà Tĩnh mình ơi

Hà Tĩnh như một bức tranh thu nhỏ của dải đất miền Trung nói riêng và nước Việt nói chung, tựa lưng vào dãy Trường Sơn và hướng ra biển Đông, với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú và di tích, danh thắng tiêu biểu, có giá trị tầm cỡ quốc gia và quốc tế như bãi biển Thiên Cầm, Xuân Thành, Kỳ Ninh, Mũi Đao, hồ Kẻ Gỗ, chùa Hương Tích, núi Hồng Lĩnh 99 ngọn kéo dài trên địa bàn 34 xã ở các huyện Nghi Xuân, Can Lộc và thị xã Hồng Lĩnh, nhiều di tích lịch sử, văn hoá được công nhận cấp Quốc gia; Có hệ thống giao thông thuỷ bộ thuận tiện, nguồn tài nguyên và nhân lực dồi dào, nhiều chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư ... Hà Tĩnh đang nỗ lực vươn lên, mở rộng vòng tay chào đón bè bạn.
Hà Tĩnh mong muốn, vui mừng được đón tiếp các bạn đến thăm và đón nhận các nhà đầu tư đến với quê hương mình.
Hà Tĩnh nằm ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung Việt Nam, với diện tích đất liền 6.054,85 km2 và trên 18.000 km2, có đầy đủ vùng miền Đô thị, Đồng bằng, Miền núi, Ven biển v.v... với hơn 1,3 triệu dân cần cù, sáng tạo, chịu thương, chịu khó, phía Bắc giáp với tỉnh Nghệ An, phía Nam với tỉnh Quảng Bình, phía Tây với Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào 143 km và phía Đông có bờ biển đẹp với những dãi cát trắng mịn chạy dài 137 km.
Các tiềm năng, lợi thế của tỉnh Hà Tĩnh:
1. Tài nguyên khoáng sản:
- Có mỏ sắt Thạch Khê cách Thành phố Hà Tĩnh 7 km, trữ lượng trên 544 triệu tấn, hàm lượng sắt 62,1%.
- Quặng Ti Tan (Cẩm Xuyên, Kỳ Anh) có trữ lượng trên 5 triệu tấn, thuộc loại quặng giàu, hàm lượng Imenite từ 63,3 đến 147,4 kg/m3, Zireon từ 3-5,2kg/m3. Hiện đang khai thác xuất khẩu mỗi năm từ 10-12 vạn tấn.
- Quặng thiếc (xã Sơn Kim, huyện Hương Sơn) có trữ lượng khoảng 70.000 tấn. Hàm lượng thiếc trong các mạch quặng trung bình 1%.
- Sét gạch ngói được phân bố ở hầu hết các huyện trong tỉnh. Các mỏ lớn có trữ lượng khoảng 65.000.000 m3 dùng sản xuất gạch ngói rất tốt.
- Đá Granít (ở huyện Nghi Xuân, Thạch Hà và Kỳ Anh) có trữ lượng khoảng 1,1 tỷ m3, đá Granít Hà Tĩnh thuộc loại cứng, chỉ số mài mòn 0,159 gam/cm2, độ kháng ép cao 1.600-1.7000 kg/cm2 rất tốt cho xây dựng, nhất là các công trình yêu cầu chất lượng cao.
- Nước khoáng Sơn Kim: cách huyện lỵ Hương Sơn 30 km, cách Cửa khẩu Cầu Treo khoảng 20km. Nước khoáng từ lòng đất phun qua các khe nhỏ trong đá Granít nhiệt độ trên mặt nước trên 760C, có mùi Sunfua-hydro, thuộc loại nước Bicácbônát-natri. Lưu lượng khoảng 400 m3/ngày. Hiện nay, đã được khai thác chế biến và lưu thông trên thị trường, nhưng quy mô còn nhỏ. Bên bờ suối nước khoáng Sơn Kim là khu rừng đặc dụng có diện tích 30.000 ha, có nhiều loại gỗ quý và động vật quý hiếm, Tỉnh chủ trương xây dựng tại đây một khu nghỉ dưỡng kết hợp với du lịch sinh thái và tổ chức tuyến du lịch lữ hành từ Việt Nam đi Lào và Thái Lan.
2. Khí hậu:
- Khí hậu: Hà Tĩnh được chia ra 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Nhiệt độ trung bình hàng năm 23-240C. Nguồn ánh sáng dồi dào, hàng năm có từ 1.600-1.700 giờ nắng, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và chế biến nông sản thực phẩm.
- Thuỷ văn: Hệ thống sông ngòi khá dày đặc, phân bố tương đối đồng đều (bình quân 0,14 km đường sông/1 km2 diện tích tự nhiên) ngoài ra còn có 200 hồ chứa, lượng nước mặt hàng năm khá lớn ≈ 6 tỷ m3.
Cùng với hệ thống sông ngòi và hồ đập, Hà Tĩnh có mạng lưới thuỷ lợi tương đối hoàn chỉnh, chủ động tưới trên 75% diện tích cây lương thực và góp phần quan trọng điều hoà môi trường sinh thái.
3. Rừng:
Rừng và kinh tế rừng là một thế mạnh của tỉnh, có 199.847 ha rừng tự nhiên, trong đó rừng đặc dụng 60.000 ha, rừng phòng hộ 83.078 ha, rừng sản xuất 26.000 ha. Trữ lượng gỗ trên 21,13 triệu m3. Thực hiện chủ trương đóng cửa rừng, hiện nay mới khai thác 15.000 m3 gỗ/năm.
Do tính đa dạng và phong phú của rừng Hà Tĩnh, Chính phủ đã quyết định thành lập Vườn Quốc gia Vũ Quang và Khu bảo tồn thiên nhiên Kẽ Gỗ. Ở đây diện tích rừng nguyên sinh chiếm trên 60%. Thảm thực vật phong phú, có 307 loài thực vật bậc cao, thuộc 236 chi, 99 họ với 10 loài quý hiếm, tiêu biểu như Pơ Mu, Trầm Hương, Lim, Gụ, Sến, Táu…
Động vật: có tới 170 loài thú, 280 loài chim, 38 loài bò sát. Đặc biệt ở Vườn Quốc gia Vũ Quang có các loài thú đặc hữu như Voọc Hà Tĩnh, Vượn má vàng, hai loài thú lớn mới là Sao La và Mang Lớn.
Với tính đa dạng và phong phú của mình, Vườn Quốc gia Vũ Quang và Khu bảo tồn thiên nhiên Kẽ Gỗ có khả năng trở thành các địa chỉ du lịch sinh thái và du lịch thể thao hấp dẫn.
4. Biển và bãi biển:
Thiên nhiên đã ưu đãi cho Hà Tĩnh 137 km bờ biển chạy dài từ Cửa Hội (Nghi Xuân) đến chân Đèo Ngang (huyện Kỳ Anh). Biển Hà Tĩnh có 267 loài cá, thuộc 90 họ, trong đó có 60 loài có giá trị kinh tế cao, có 20 loại tôm, là một ngư trường lớn và có nhiều bãi tắm lý tưởng. Ngoài bờ có nhiều đảo, đảo không lớn nhưng không quá xa bờ, rất tiện lợi cho tàu thuyền neo trú và du khách tham quan.
Dọc bờ biển có 4 cửa sông lớn: Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu là những Cảng cá hiện nay và trong tương lai gần. Tuy vậy, do kỹ thuật và phương tiện đánh bắt chưa hiện đại nên hiện nay mới khai thác được trên dưới 20.000 tấn hải sản/năm.
Diện tích mặt nước lợ trên 6.000 ha, có độ mặn và cấu tương đất rất phù hợp với nuôi trồng thuỷ sản. Ngoài ra, còn có hàng chục ngàn ha đất cát ven biển rất thuận tiện cho nuôi tôm theo công nghệ mới.
Về du lịch biển, tỉnh đã xây dựng 4 Khu du lịch là Xuân Thành, Thạch Hải, Thiên Cầm và Đèo Con. Đây là những bãi tắm đẹp, nước trong, cát mịn, bãi bằng. Cạnh các bãi biển lại có núi, nên tắm biển mà vẫn được chiêm ngưỡng vẽ đẹp kỳ vỹ hoành tráng của núi non, và cũng chỉ có ở đây từ trên núi cao mới cảm nhận được sự mênh mông, kỳ diệu và thơ mộng của biển cả.
5. Về kết cấu hạ tầng kỹ thuật:
- Về điện: Hà Tĩnh nằm trên tuyến đường 500 KV Bắc Nam, đặc biệt có trạm biến áp 500 KV, hạ áp cho 2 đường 220 KV, và 4 trạm 110 KV tạo thành mạch vòng, chủ động cấp điện cho các tỉnh Bắc Trung bộ. Đến nay, 100% số xã trong tỉnh đã có lưới điện Quốc Gia.
- Giao thông vận tải khá thuận lợi:
+ Đường bộ: Quốc lộ 1A chạy dọc tỉnh từ Bến Thuỷ qua huyện Nghi Xuân, Thị xã Hồng Lĩnh, Thành phố Hà Tĩnh, các huyện Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh dài 126 km đã được nâng cấp đạt tiêu chuẩn cấp 3 đồng bằng; Quốc lộ 8A nối Thị xã Hồng Lĩnh với Cửa Khẩu Cầu Treo dài 90 km, từ đây đi Lào và vùng Đông bắc Thái Lan rất thuận tiện và ngắn hơn so với các đường bộ khác.
Đường Hồ Chí Minh qua 3 huyện Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang có chiều dài trên 80 km đã được xây dựng.
Quốc lộ 12 nối cảng biển nước sâu Vũng Áng với cửa khẩu Cha Lo và thị xã Thà Khẹt, tỉnh Khăm Muộn (Lào) sang vùng Đông - Bắc Thái Lan đang được thi công, giai đoạn 1 đầu tư rộng 18 m đang khẩn trương thông tuyến. Đây là đường nối hành lang Đông - Tây ngắn nhất, đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi để khai thác tiềm năng vùng đất bao la miền Tây Hà Tĩnh, Quảng Bình và biên giới Việt Lào.
Hà Tĩnh còn có 28 tuyến Tỉnh lộ với chiều dài 379,2 km, 45 tuyến đường liên huyện với chiều dài 1.345 km và đường ô tô từ huyện tới 259 xã, phường, thị trấn với 3.623 km, tạo nên mạng lưới giao thông thuận lợi.
+ Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy qua địa phận Hà Tĩnh dài 71km, khổ đường 1m, có 2 ga hàng hóa Hương Phố và Phúc Trạch; Có 8 ga khách, trong đó có 2 ga khách chính là Yên Trung và Gia Phố. Đường sắt Vũng Áng - Thà Khẹt dự kiến được xây dựng cắt tuyến đường sắt Bắc Nam.
+ Hải Cảng: Chính phủ Việt Nam đã có quy hoạch định hướng xây dựng cụm Cảng nước sâu Vũng Áng - Sơn Dương với các Cảng tổng hợp và Cảng chuyên dùng, phục vụ công nghiệp cơ khí, luyện cán thép, đóng và sửa chữa tàu thuỷ, hoá dầu.
+ Cảng Vũng Áng: Được quy hoạch 27 cầu cảng với lượng hàng hóa bốc xếp hàng năm là 20 triệu tấn/năm. Kế hoạch đến năm 2010 xây dựng 4 cầu cảng với tổng chiều dài 995,5m trong đó 2 cầu cảng bách hóa và 2 cầu cảng Conterner.
· Hiện tại, Cầu cảng số 1 đã đưa vào sử dụng năm 2002, đảm bảo cho tàu bách hóa có trọng tải đến 3 vạn tấn và tàu chuyên dụng có trọng tải đến 4,5 vạn tấn cập cảng thuận lợi.
· Cầu cảng số 2 với chiều dài 270m, đang tiến hành xây dựng, dự kiến sẽ đưa vào vận hành trong đầu năm 2008, có thể đón nhận tàu bách hóa 4,5 vạn tấn.
· Cầu cảng số 3 đã lập báo cáo tiền khả thi với các thông số kỹ thuật tương đương với Cầu cảng số 2, sẽ xây dựng sau khi cầu cảng số 2 đưa vào vận hành.
+ Cảng Sơn Dương: Được quy hoạch 30 bến với định hướng các chức năng sau:
· Cảng căn cứ dầu khí chiếm khoảng 100ha, năng lực thông qua cảng là 4 triệu tấn/năm, với chiều dài 140m.
· Cảng lọc hóa dầu bố trí 2 bến dầu thô cho tàu trọng tải 150.000 - 200.000 tấn, cách bờ 1,8km và 8 bến xuất dầu sản phẩm ngay trong cảng, năng lực thông qua cảng là 15 triệu tấn/năm.
· Cảng chuyên dụng thép, gồm 2 bến cho tàu 50.000 - 150.000 tấn đặt cách bờ 1,6 km để xuất quặng và 8 bến tàu 10.000 - 30.000 tấn xuất sản phẩm thép và nhập phụ kiện, năng lực thông qua cảng chuyên dụng thép là 10 triệu tấn/năm.
Diện tích khu nước của toàn bộ khu cảng Sơn Dương là 400 ha, chiều dài đê chắn sóng là 7,8km, cao 20m
+ Ở huyện Nghi Xuân phía Bắc Hà Tĩnh có cảng sông Xuân Hải, đủ điều kiện tiếp nhận tàu 2.000 tấn.
6. Con người và văn hoá Hà Tĩnh:
Dù du khách về Hà Tĩnh bằng đường bộ, đường sắt hay đường thuỷ thì cuộc đi nào cũng đến cội nguồn của các di tích lịch sử văn hoá Hà Tĩnh. Đó là những làng quê đã sinh ra những con người có tên tuổi lớn, được dân tộc này lưu danh muôn đời, như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Biểu, Nguyễn Huy Tự, Đặng Dung, Đặng Tất, Bùi Cầm Hồ…đến Phan Đình Phùng, Trần Phú, Hà Huy Tập…nối tiếp sau này như Xuân Diệu, Lê Văn Thiêm, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Phan Chánh…
Người Hà Tĩnh có đức tính cần cù, chịu khó, ham học. Theo số liệu điều tra năm 2005, hiện có khoảng 654.622 người trong độ tuổi lao động, trong đó có khoảng 20% đã được đào tạo. Thạc sỹ, Tiến sỹ có: 150 người; Lao động có trình độ Đại học trở lên: 9.491 người; Lao động có trình độ Trung học chuyên nghiệp và Cao Đẳng: 35.930 người; Công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có bằng, chứng chỉ: 16.574 người, trong đó thợ lành nghề chiếm khoảng 5% - 7 %; Số học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học hàng năm từ 20.000 đến 25.000, là nguồn bổ sung lao động quý giá.
Hà Tĩnh có 1 Trường Đại học và các trường trung học chuyên nghiệp. Hiện có 28 cơ sở dạy nghề, trong đó: Có 6 Trường dạy nghề, 3 Trường trung học có đào tạo nghề; 3 Trung tâm dạy nghề và dịch vụ việc làm, 2 Trung tâm dạy nghề tư thục; 2 Trung tâm dịch việc làm có đào tạo nghề; 11 Trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp - Dạy nghề của 9 huyện và 2 thị xã.
Ngoài ra còn có các lớp dạy nghề bên cạnh các doanh nghiệp, các Sở, ngành, các tổ chức chính trị xã hội với hình thức liên kết gửi học sinh đi đào tạo tại các trường Trung ương và tỉnh bạn ...
Với nguồn lao động dồi dào, trẻ, trình độ văn hoá khá và hệ thống các trường dạy nghề hiện có đủ đáp ứng nhu cầu đào tạo công nhân cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư.
Ngoài ra, Hà Tĩnh còn có đội ngũ các nhà khoa học, các nhà quản lý, những công nhân lành nghề, các thương gia và doanh nhân đang sống và làm việc ở các tỉnh trong nước, ở nước ngoài luôn luôn hướng về quê hương với mong muốn xây dựng quê hương giàu đẹp.
Hà Tĩnh còn là tỉnh ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, con người Hà Tĩnh cởi mở, thân thiện, môi trường sinh thái được quan tâm bảo vệ, bộ máy và các thủ tục hành chính đang được sắp xếp cải tiến gọn nhẹ… là môi trường đầu tư khá thuận lợi