• Các thành viên chú ý, NHT trở lại vẫn giữ những thông tin cũ, bao gồm username và mật khẩu. Vì vậy mong mọi người sử dụng nick name(hoặc email) và mật khẩu cũ để đăng nhập nhé. Nếu quên mật khẩu hãy vào đây Hướng dẫn lấy lại mật khẩu. Nếu cần yêu cầu trợ giúp, xin liên hệ qua facebook: Le Tuan, Trân trọng!

Album ảnh thành viên hoanganhvan

Từng bừng khai mạc đường hoa Nguyễn Huệ


Tối qua (20/1), đường hoa Nguyễn Huệ năm 2012 với chủ đề “Việt Nam quê hương tôi” đã chính thức mở cửa chào đón người dân vào tham quan dịp Tết.

Ngay trước giờ khai mạc, đã có rất nhiều người dân tập trung tại khu vực đường hoa Nguyễn Huệ để chờ đợi được vào tham quan. Đúng 20 giờ, đường hoa chính thức mở cửa. Với chủ đề “ Việt Nam quê hương tôi”, đường hoa Nguyễn Huệ năm nay được thiết kế với nhiều khu vực thể hiện nét đặc trưng của các vùng miền khác nhau trong cả nước với những hình ảnh đặc trưng như: đồng lúa, biển đảo, rặng tre,… Và đặc biệt là hình ảnh của những con rồng- linh vật đại diện cho năm mới Nhâm Thìn, được tạo nên bằng nhiều chất liệu khác nhau.


Rất nhiều người dân đã tập trung tại khu vực đường hoa trước giờ mở cửa.


Hình ảnh Rồng đẹp mắt được tạo từ chất liệu Lục Bình.


Hình ảnh của một chú Lân sống động.


Chim Lạc, một biểu tượng của dân tộc Việt Nam.


Người dân thành phố háo hức chiêm ngưỡng những tác phẩm tạo hình đẹp mắt tại đường hoa năm nay.


Hình ảnh bánh Tét quen thuộc với cái Tết của người Việt Nam. Cùng với bánh chưng, là hai món ăn đặc trưng không thể thiếu trong mâm cỗ ngày Tết của mỗi gia đình.

Hòa chung không khí nô nức đón Xuân, hàng ngàn người đã có mặt tại đây để chiêm ngưỡng những tác phẩm nghệ thuật đẹp mắt được tạo nên từ hoa, cây cảnh,…


Con đường Nguyễn Huệ như một vườn hoa đủ màu sắc trong những ngày Tết.


Với những tác phẩm nghệ thuật từ hoa đẹp mắt.

Bên cạnh đường hoa Nguyễn Huệ, tại khu vực này, người dân thành phố Hồ Chí Minh còn có thể tìm hiểu và mua sắm các loại sách tại đường sách ngay bên cạnh. Không những thế, ban tổ chức còn dành riêng một khu vực vui chơi cho trẻ em, khu ẩm thực,…


Đường sách ngay bên cạnh đường hoa là một điểm vui chơi, mua sắm lý thú vào dịp Tết.


Khu vực vui chơi dành riêng cho trẻ em.

Trong không khí chào đón một năm mới sắp tới, các loài hoa đua nhau khoe sắc và dòng người tấp nập du xuân trên đường hoa Nguyễn Huệ càng làm tăng thêm niềm vui cho một cái Tết gần kề.

Một vài hình ảnh đẹp tại đường hoa Nguyễn Huệ trong đêm khai mạc:


Rất nhiều các loại hoa được quy tụ về đây cùng nhau khoa sắc.


Mọi người cùng nhau vui vẻ dạo quanh đường hoa. Nhiều người tranh thủ chụp hình những bông hoa rực rỡ.


Một tòa nhà cao tầng bên cạnh đường hoa nổi bật với tấm bản đồ Việt Nam đầy màu sắc.


Một người làm Tò He tại khu vực đường hoa thu hút được sự chú ý của nhiều người.


Đặc biệt là các em nhỏ.
 
Em cảm ơn bác về những bức ảnh và bài viết của bác. Mong bác có thêm những bài viết tiếp để biết thêm về con người và đất nước mình!
 
LỜI THƠ XUÂN


Xuân đáo bình an tài lộc tiến
Mai khai phú quý lộc quyền lai


Mùa xuân trăm hoa đua nở, con người ai cũng có một tình yêu thương, hoài bão, nhiệt huyết, lòng tri ân tổ tiên,...
với ngoòi bút tài hoa. Nghệ thuật Thư pháp Việt đã hình thành sự trang nghiêm, nhẹ nhàng và đầy tính trang trọng
cho không khí xuân thật nhiều niềm vui và ngập tràn tiếng cười hạnh phúc.


01
Cung chúc tân xuân
An khang thịnh vượng

02
Vạn sự như ý

03
Phúc thọ phồn vinh
Lộc tài phát đạt

04_ Mã đáo thành công

05
Phúc thọ vô biên
Lộc tài vô tận

06
Cát tường như ý

07
Ngũ phúc lâm môn

08
Phúc như Đông hải
Thọ tỷ nam sơn

09
Phúc lai miên thế trạch
Lộc mãn trấn gia thanh
( Phúc dâng tràn mọi nẻo
Lộc thơm ngát cửa nhà )


10
Phúc như đông hải mãi trường lưu
Lộc tấn vinh hoa phú quý sinh
Thọ tỷ nam sơn tùng bách lão

11
Tài trí cát tường và đức hạnh
Kinh doanh phát lộc phát tài nhanh

12
Đa tài đa lộc đa phú quý
Đắc thời đắc lợi đắc nhân tâm

13
Phúc sinh phú quý gia đình thịnh
Lộc tấn vinh hoa tử tôn hưng

14
Phúc mãn đường niên tăng phú quý
Đức lưu quang nhật tiến vinh hoa

15
Chân tâm tài tất đáo
Hữu đức phúc tự lai

16
Xuân an khang thịnh vượng
Niên phúc thọ miên trường

17
Tết đến gia đình vui sum họp
Xuân về con cháu sống bình an

18
Chúc Tết đến trăm điều như ý
Mừng xuân sang vạn sự thành công

19
Niên niên như ý xuân
Tuế tuế bình an nhật

20
Mùa xuân hoa nở khắp quê hương
Phúc đức an khang đến mọi nhà

21
Tân niên tân phúc tân phú quý
Tấn tài tấn lộc tấn bình an

22
Lộc biếc mai vàng xuân hạnh phúc
Đời vui sức khỏe Tết an khang

23
Từ em xuân đã trong tôi bốn mùa

24
Ngày xuân hạnh phúc bình an đến
Năm mới vinh hoa phú quý về

25
Ô hay xuân đến bao giờ nhỉ
Chợt thấy hoa mai mới biết là

26_ Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
( Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một nhành mai )

27_ Phúc lộc thọ tam tinh đồng chiếu
Thiên địa nhân nhất thể đồng xuân

28_ Người trồng cây cảnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời mai sau

29
Xuân đáo bình an tài lợi tiến
Mai khai phú quý lộc quyền lai

30
Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ
Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường

31
Trời thêm năm tháng người thêm thọ
Xuân đến muôn nơi phúc khắp nhà

32
Chở mai về phố mai hóa bướm
Gánh chữ vào xuân xuân hóa mây

33
Môn đa khách đáo thiên tài đáo
Gia hữu nhân lai vạn vật lai

34
Nghĩa tổ muôn xuân xanh biếc lộc
Tình nhà vạn Tết thắm tươi hoa

35
Mai đào nở khắp quê nhà
An khang thịnh vượng món quà chúc xuân

36
Mai vàng đua nở sum suê
Khách thiền đâu bận xuân về hay chưa

37
Xuân an khang đức tài như ý
Niên thịnh vượng phúc thọ vô biên

38
Nếu chẳng một phen sương thấm lạnh
Hoa mai đâu dễ tỏa mùi hương

39
Sinh ý hưng long thông tứ hải
Tài nguyên mậu thịnh đạt tam giang
( Buôn bán hưng vượng thông bốn biển
Tài nguyên phồn thịnh nối ba sông )

40
Tài như hiển nhật đằng vân khởi
Lộc tựa xuân trào đái vũ lai

41
Cung chúc an khang toàn gia thịnh
Vạn kỷ niên xuân ý cát tường

42
Xuân qua lại tưởng xuân tàn
Hoa dù rụng nở vẫn hoàn tiết xuân

43
Vinh hoa phú quý niên trường thọ
Tài lộc an khang tuế cát tường

44
Trúc báo bình an toàn gia thịnh
Mai khai phú quý khắp nhà xuân

45
Bình an trúc lớn nghìn năm biếc
Phú quý nở hoa một đóa hồng

46
Xuân đa kiết khánh
Hạ bảo bình an
Thu tấn vinh hoa
Đông nghinh bá phúc

47
Mai gọi xuân về lan chịu hạ
Cúc tin thu tới trúc nhờn đông

48
Sắc cầm hảo hiệp câu mai trúc
Vĩnh kết đồng tâm chữ đá vàng

49
Chào xuân mới nơi nơi đầy bí ẩn
Gặp thời hay chốn chốn rộ hoa thơm

50
Thu tới đầy non chen vẻ đẹp
Xuân về khắp chốn ngát hoa thơm

51
Vi nhơn hòa khí sinh vô hạnh
Xử sự công bình lộc tự nhiên

52
Gió trêu sột soạt tà áo biếc
Trên giàn thiên lý bóng xuân sang

53
Tình xuân xưa vẫn chứa chan
Mùa xuân nay vẫn ngập tràn niềm vui

54
Nở sắc hoàng mai chiều nguyệt tận
Tươi màu thủy trúc sáng tân xuân

55
Chim hót chào xuân thơ khởi sắc
Hoa cười đón Tết bút giang hương

56
Nhất nhất thái hòa chân phú quý
Mãn môn xuân sắc thị vinh huê
( Một nhà yên vui đích thực giàu sang
Sắc xuân đầy cửa chính thật vinh hoa )

57
Đi trong muôn sắc ngày xuân
Đùa hoa lạc bước phố gần phố xa
Ngẩn ngơ quên chẳng mua hoa
Người đi ngắm cảnh cho ta ngắm người

58
Sớm nay chồi biếc vươn trời
Mùa xuân chim én gọi người cùng bay
Rẽ mây xuống chợ phiên này
Gập ghềnh vó ngựa chở đầy mưa xuân
Cao Quảng Văn – Ng~ Thị Minh Thông

59
Hoa thả hương vào thời gian
Cho mùa xuân thơm nức
Hoa thả hương vào ký ức
Để mùa xuân bâng khuâng

60
Chợt nghe tiếng gió đêm trừ tịch
Ta hỏi lòng xuân nghĩ ngợi gì
Xuân cười hữu hạn xuân không tuổi
Xuân đến rồi xuân vội vã đi
Thời gian rũ áo không quay lại
Bảng lảng nghìn năm sương khói ơi
Dương Kỳ Anh

61
Vẫn quên vẫn nhớ vận bâng khuâng
Một chút tình xa chút mộng gần
Vẫn say men rượu chiều dang dở
Ấy vẫn ta còn một chút xuân
Hồng Hải

62
Khi em cuốc phố trồng hoa mới
Thì mẹ nghiêng vai gánh Tết về
Võ Minh Trang

63
Mai vàng vừa hé nụ
Xuân đến hôn nhẹ nhàng
Hoa cười tươi sắc nắng
Đón chào mùa xuân sang

64
Xuân đi hoa vẫn nở
Xuân ở hoa vẫn rơi
Bận lòng chi rơi nở
Tự tại thả thuyền chơi

65
Rực rỡ muôn màu khoe sắc xuân
Nhành mai e ấp nở hoa vàng
Quê nghèo xơ xác mùa đông ấy
Bỗng chốc pha màu xuân chứa chan
HNSaigon

66
Mai vàng nở rộ mừng năm mới
Đào hồng khoe sắc đón xuân sang

67
Xuân nhập trời xuân xuân bất lão
Phúc nhập đất phúc phúc vô biên


68
Trăm hoa đua nở hơi xuân ấm
Muôn vẻ đổi thay vận nước vui

69
Tân niên niên kiết tường vạn phúc
Xuân thịnh vượng đắc thọ toàn gia

70
Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch
Hạ nhật hồng hoa đầu hảo kỳ
Cúc ngao du tình thương vạn hộ
Tùng năng động tuyết ngọt thiên chi

71
Xuân đến hoa khoe phúc lộc hòa
Sắc đào rực rỡ giữa muôn hoa
Lung linh hoa nắng xuân phơi phới
Thịnh vượng an khang khắp mọi nhà

72
Là tết là xuân là phúc lạc
Ý mừng năm mới khắp non sông
Hành tinh hòa điệu tình huynh đệ
Mỗi đóa thơ trao một đóa hồng

73
Đưa tay níu lấy nụ cười
Mắt môi chìm nổi bóng người đi qua
Trên vai mây trắng bao la
Lặng nghe một đóa xuân hoa mỉm cười


74
Lặng im xuân đến mai vàng nở
Thức dậy tết về khóm trúc reo

75
Nguyên xuân tinh khiết đất trời
Sơ tâm thanh tịnh như lời vô ngôn

76
Ngày ngày vun trồng phúc hậu
Đời đời được hưởng bình an

77
Khứ niên tài lộc đa phước đức
Tân xuân phú quý thọ khương ninh

78
Xuân sang cội phúc sinh cành lộc
Tết về cây đức trổ thêm hoa


79
Xuân theo cánh én bay về tổ
Hạ lướt qua mây chút nắng vàng
Thu rơi theo gió từng chiếc lá
Đông bay lạnh lẽo thoảng hồn ai

80
Xuân: cánh én chạm trời xuân về mở ngõ
Hạ: sang mùa chim đã đổi đường bay
Thu: trải vàng thảm lá dưới trăng say
Đông: lại về rưng rưng từng chiếc lá

81
Xuân du phương thảo địa
Hạ thưởng lục hà trì
Thu ẩm hoàng hoa tửu
Đông ngâm bạch tuyết nhi

82
Nến rạng trầm thơm chờ tết đến
Trà xanh rượu ngọt đón xuân về

83
Xuân bay phơ phất như vô ý
Chạm má hồng em sao đỏ gay

84
Chúc xuân bao chuyện tốt lành
Mừng mùa én liệng trên cành hoa măng
Năm trang cánh mỏng mai vàng
Mới màu may mắn đẹp sang khắp nhà

85
Gia đình vạn sự bình yên
Tài vô lộc đến phúc duyên tròn đầy

86­­
Xuân đáo hoa khai, tài như ý
Hạ lai thịnh vượng, phúc mãn đường
Thu khứ bình an, lộc đắc chí
Đông hồi tứ quý, thọ an khương
 
Thăm nhà giáo sư TS Mạc Đường










 
PGS.TS Mạc Đường - Một con người luôn vươn lên

(Theo PV.Hoàng Diệu Linh viết năm 2010)

Giáo sư, tiến sĩ Mạc Đường sinh năm 1935 trong một gia đình tri thức ở Quy Nhơn. Mẹ giỏi tiếng Pháp làm nghề hộ sinh ở nhà thương công Quy Nhơn. Cha giỏi Hán-Nôm, biết làm thơ Đường, biết tiếng Pháp và là giáo viên trường Tiểu học Công giáo tại làng Kim Chua (huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định). Trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, ông là thanh niên xung phong tập kết ra miền Bắc tham gia xây dựng đường sắt Hà Nội-Mục Nam Quan, Hà Nội-Lào Cai từ tháng 11 năm 1954 đến tháng 8 năm 1956 rồi được Đảng và Nhà nước cử đi học. Khi còn công tác ở Viện sử học (Hà Nội) thuộc Ủy Ban Khoa học nhà nước, Gs. Mạc Đường là Bí thư Đoàn bộ Đoàn Thanh niên Lao động Ủy Ban Khoa học nhà nước, đại biểu thanh niên trí thức tại Đại học TNLĐ toàn quốc lần thứ III năm 1960 (tại đại hội này Đoàn đã đổi tên thành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh).
Trên con đường khoa học của mình, theo ông kể lại, ông đã chịu ảnh hưởng rất lớn nhân cách và tư duy khoa học của GS.VS. Trần Huy Liệu, GS. Nguyễn Khánh Toàn. GS.NGND. Trần Văn Giàu. Trong những năm công tác tại Viện Sử học, ông còn may mắn được tiếp xúc và học hỏi những bậc thầy và đàn anh đáng kính như học giả Đào Duy Anh, Trần Văn Giáp, Nguyễn Lương Bích, Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong và Văn Tạo.
Từ năm 1960, GS. Mạc Đường đã bắt đầu tự học tiếng Nga qua một giáo trình bằng tiếng Pháp và sau đó ông được cử đi học tiếng Nga chuyên tu tại Trường Đại học Ngoại ngữ trong 12 tháng để dự kỳ thi tuyển lựa nghiên cứu sinh đi học tại Liên Xô (cũ). Tháng 8 năm 1968, ông được cử đi nghiên cứu sinh tại Viện Dân tộc học thuộc Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô-thủ đô Matxcơva. Tháng 2 năm 1970, ông bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ (nay gọi là Tiến sĩ) khoa học lịch sử, chuyên ngành Dân tộc học. Giáo sư N.N.Trê-bốc-xa-rop và giáo sư S.I.Bruc là hai vị giáo sư có ảnh hưởng nhiều nhất đến tư duy khoa học thời kỳ nghiên cứu sinh của ông ở Liên Xô trước đây.
Trong thời gian ở Liên Xô, GS. Mạc Đường là Phó bí thư Thành Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lưu học sinh Việt Nam tại Matxcova, đại diện sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam trong Hội đồng sinh viên quốc tế toàn Liên Xô kiêm Trưởng đoàn văn nghệ sinh viên Việt Nam. Nhờ sự giúp đỡ của Viện Hàn Lâm Khoa học Liên Xô, Ông đã được cử đi tham dự hội nghị về đô thị hóa ở các nước Trung Á (Liên Xô) tại thủ đô Tasken (nước cộng hòa Ouzbekistan), tham gia hội thảo về vấn đề dân tộc ở biên giới Liên Xô ở thành phố Dushanbe (thủ đô nước cộng hòa Tajiskistan) có biên giới Afghanistan, làm việc và khảo sát ở nông trường Politerđen của người Triều Tiên di trú ở ngoại ô thành phố Tacken, trao đổi khoa học với Viện Hàn Lâm Khoa học nước cộng hòa tự trị Đaghextan tại thủ phủ Makhachkala, trao đổi khoa học với Viện Dân tộc và Lịch sử, Khảo cổ nước cộng hòa tự trị Tresnia ở thủ phủ Grozui, thăm viếng nhiều khu đền Hồi giáo ở nước Cộng hòa Uzbekistan, làm việc với các khoa học Dân tộc học các trường đại học ở nước cộng hòa Latvia, Litva và Viện bảo tàng Dân tộc học Leningrad (nay là thành phố Saint Petensburg). Nhờ sự giúp đỡ của T.Ư Đoàn TNCS Liên Xô, Ông đã được đi du lịch dọc sông Volga, đến thăm nhiều thành phố vùng Trung Á và Capcađơ ở Liên Xô cùng với các đại biểu sinh viên quốc tế học ở Matxcơva.
Sau khi về nước, Ông được cử giữ chức Thư ký khoa học kiêm Thư ký tòa soạn Tạp chí Dân tộc học và Trưởng phòng Nghiên cứu Việt-Mường thuộc Viện Dân tộc học Việt Nam (Hà Nội). Năm 1974, Ông được bổ nhiệm là Phó Viện trưởng Viện Dân tộc học (Hà Nội). Năm 1975, Ông được cử giữ chức Trưởng ban nghiên cứu dân tộc học rồi nhận nhiệm vụ Trưởng ban Lịch sử, Dân tộc học và Khảo Cổ học, Phó Viện trưởng phụ trách về đào tạo và đối ngoại, Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Quốc gia. Trong thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX, Giáo sư Mạc Đường đã được cử đi trao đổi khoa học, giảng dạy, thuyết trình chuyên đề tại các Trường đại học Tokyo, Osaka, Yokohama, Hiroshima (Nhật Bản); Đại học Seoul, Pusan, Kuangju (Hàn Quốc); Đại học Wollongong, Đại học quốc gia Australia ở Canberra (Úc); Đại học Namur, Brussel (Bỉ); Đại học Amtersdam (Hà Lan); Đại học Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ); Đại học quốc gia Luxembourg, Đại học Paris VII, Học viện Khoa học Xã hội thực hành cao cấp, Học viện chính trị Paris VII (Pháp); Đại học New York, Đại học bang Utah ở thành phố Salt Lacke City, Đại học Washington D.C (Hoa Kỳ); Đại học quốc gia Singapore, Đại học Kebangsang (Malaysia); Đại học Jakarta (Indonesia), đại học Thamasat, Mahidon (Thái Lan).
Sau khi về hưu, từ năm 2000 cho đến năm 2010, GS. Mạc Đường đã tham gia chủ biên công trình Nhà nước “Lịch sử Việt Nam” (6 tập) cùng GS.Trần Văn Giàu và nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng. Ông còn được mời tham gia ban chỉ đạo công trình Nhà nước “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến” do nguyên cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt làm chủ nhiệm chương trình. Bản thân Ông đã chủ trì một đề tài nhánh do trung tướng Nguyễn Thới Bưng chỉ đạo. Năm 2008, Trường Đại học Bình Dương mời ông hợp tác và giữ chức vụ Viện trưởng Viện Châu Á-Thái Bình Dương để chủ trì bộ giáo trình về APEC học (APEC Studies). Ông tích cực tham gia Hội đồng Khoa học và Hội đồng chức danh khoa học ở Viện Phát triển Bền Vững Vùng Nam Bộ, giảng dạy và thuyết trình khoa học ở Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia, tham gia các hội đồng chấm luận án thạc sĩ, tiến sĩ. Riếng cá nhân GS.Mạc Đường đã đào tạo được 22 tiến sĩ và 5 thạc sĩ được nhà nước công nhận học vị khoa học. Ông là ủy viên Ban Biên tập các tạp chí khoa học như: Tạp chí Dân Tộc học của Viện Dân tộc học; Tạp chí Xưa và Nay của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam. Bên cạnh đó, Ông còn tham gia nhiều hoạt động khoa học xã hội và giảng dạy ở các địa phương Nam Bộ như: Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang. Ngoài ra, Ông còn tham gia giảng dạy tại Đại học Đà Lạt và Huế, nghiên cứu khảo sát ở Đắk Lắk, Đắk Nông và nhiều tỉnh miền núi phía Bắc trước khi chuyển vào Nam.
Cho đến nay, GS.Mạc Đường đã có một số công trình nghiên cứu mà ông tâm đắc nhất để giới thiệu về mình. Đó là những sách, luận văn sau đây:
Nghiên cứu về Hồ Chí Minh:
1. “Từ điển Hồ Chí Minh” (gồm nhiều tác giả), NXB.Trẻ,TP.HCM 1990.
2. “Bối cảnh lịch sử của thời gian Hồ Chí Minh dừng chân ở Bình Định”, Kỷ yếu hội thảo Nguyễn Tất Thành ở Bình Định, Tỉnh ủy Bình Định, Quy Nhơn tháng 1 năm 2010.

Những công trình nghiên cứu chuyên ngành:

3. “Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, NXB Văn hóa, Hà Nội 1959, sách viết chung cùng Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Mai Văn Trí và Ngọc Anh.
4. “Các dân tộc miền núi Bắc Trung bộ - Sự phân bố dân cư và những đặc trưng văn hóa”, NXB. Khoa học (Ủy ban Khoa học Nhà nước), Hà Nội 1964.
5. “ Lý thuyết loại hình kinh tế - văn hóa và vai trò của nó trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở nước VNDCCH” (tóm tắt luận án PTS bảo vệ tại Matxcova năm 1970). Xem trong sách “Dân tộc học và những vấn đề xã hội hiện đại”, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội 2006.
6. “Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng” (Chủ biển), Sở Văn hóa tỉnh Lâm Đồng, Đà Lạt 1983.
7. “ Vấn đề dân tộc ở Sông Bé”, NXB. Tổng hợp Sông Bé, 1985.
8. “Địa chí tỉnh Sông Bé”, viết chung cùng Trần Bạch Đằng, Lê Công Kiệt, Nguyễn Đình Đầu, Sơn Nam, NXB. Tổng hợp Sông Bé 1991.
9. “Sơ khảo huyện Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh”, viết chung cùng Trần Bạch Đằng, Trần Kim Thạch, Nguyễn Đình Đầu, Hoàng Văn Lễ, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội 1994.
10. “Xã hội người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh sau năm 1975”, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội 1994.
11. “Dân tộc học và vấn đề xác định thành phần dân tộc”, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội 1997.
12. “Dân tộc học đô thị và vấn đề đô thị hóa”, NXB Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh 2002.
13. “ Nghèo đô thị và cuộc chiến chống đói nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh”, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội 2004.
14. “Góp phần đổi mới quan điểm đánh giá vương triều Mạc”, NXB.Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh 2005.
15. “Đô thị quá độ và đô thị khủng hoảng;, Kỷ yếu hội thảo khoa học “ Phát triển đô thị bền vững”, UBND thành phố Hà Nội – tỉnh Thừa Thiên Huế - thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 – 2010.
16. “Vấn đề xây dựng và phát triển nguồn nhân lực tri thức thông qua hệ thống giáo dục đại học”, Kỷ yếu hội thảo khoa học vị thế văn hóa – văn hóa dân tộc trong giáo dục đại học, Đại học Bình Dương 2009.

Hiện nay, Giáo sư Mạc Đường đã nghỉ hưu, nhưng ông vẫn miệt mài nghiên cứu và chuẩn bị ra mắt 3 tác phẩm mới trong năm 2010. Đó là tập bài giảng “ Một vài nhận thức về khoa học lịch sử”, công trình nghiên cứu: “ Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của đồng bào dân tộc ở Nam Bộ” và giáo trình về APEC học (APEC studies).
Với những kiến thức và tầm nhìn của một nhà dân tộc học kiêm sử học cũng như sự cống hiến to lớn của Giáo sư đối với nền sử học nước nhà, Ông đã vinh dự được Nhà nước phong tặng nhiều huân chương, huy chương cao quý như:

1. Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất do Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam trao tặng.
2. Huân chương Lao động hạng Nhì do Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam trao tặng.
3. Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng.
4. Huy chương Vì sự nghiệp khoa học và công nghệ do Bộ khoa học và Môi trường trao tặng.
5. Huy chương Vì sự nghiệp các Hội KH&KT do Liên Hiệp các Hội KH&KT Việt Nam trao tặng.
6. Huy chương Vì sự nghiệp Khoa học Xã hội & Nhân Văn do Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Quốc gia trao tặng.
7. Huy chương Vì sự nghiệp phát triển dân tộc và miền núi do Ủy ban Dân tộc Trung ương trao tặng.
8. Huy chương Vì Thế hệ trẻ do T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao tặng.
9. Huy chương vì sự nghiệp dân vận do Ban Dân vận T.Ư Đảng cộng sản Việt Nam trao tặng.
10. Huy chương Vì sự nghiệp Tuyên giáo do Ban Tuyên giáo T.Ư Đảng cộng sản Việt Nam trao tặng.
11. Kỷ niệm chương TNXP Việt Nam do T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí minh trao tặng.
12. Kỷ niệm chương TNXP giải phóng miền Nam Việt Nam do Hội Cựu TNXP Việt Nam trao tặng.
13. Bằng khen của Chủ tịch UBND thành phố Hồ Chí Minh.
14. Bằng khen của BCH Hội Người cao tuổi Trung ương.

Từ năm 2006 đến nay, Ông được cử vào chức vụ Phó Chủ tịch Liên Hiệp Các Hội Khoa học & Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh phụ trách các Hội Khoa học Xã hội (nhiệm kỳ 2006-2010) và Ủy viên thường vụ kiêm Trưởng ban Tuyên huấn & Đối ngoại Hội Cựu TNXP thành phố Hồ Chí Minh (nhiệm kỳ 2006-2010). Ủy viên thường vụ Hội Dân tộc học và Ủy viên BCH Hội Khoa học Lịch sử thành phố Hồ Chí Minh (nhiệm kỳ 2008-2012).
 
Thăm pho Tượng Phật nằm dài nhất Việt Nam





















Tượng Phật dài nhất Việt Nam


Bức tượng dài 52 m, cao cách mặt đất 24 m ở Bình Dương vừa được xác lập kỷ lục Việt Nam.

Tượng Phật nằm trong Trung tâm Văn hóa Phật giáo Việt Nam của tỉnh Bình Dương, vừa được chùa Hội Khánh khánh thành vào ngày 29/3. Toàn bộ công trình có diện tích 3.200 m2, nằm trong khuôn viên rộng 13.000 m2 khu đất tổ của chùa. Với chiều dài kỷ lục 52 m và đặt trên cao cách mặt đất 24 m, bức tượng trở thành điểm nhấn, thu hút khách viếng thăm.


Bức tượng được đặt cách mặt đất 24 m.
Cầu thang chính đi lên tượng Phật gồm 49 bậc, tượng trưng cho 49 năm hành đạo của Đức Phật. Bên dưới tượng là 4 phòng chức năng, rộng 600 m2 dành làm nơi học tập, tổ chức hội nghị, đại hội với sức chứa trên 500 đại biểu. Ngoài ra, thư viện sách Phật giáo, khoa học, lịch sử cùng phòng làm việc của Ban giám hiệu trường Phật học tỉnh Bình Dương cũng thuộc hội trường này…

Quang cảnh xung quanh cũng được chăm chút với gần 3.000 m2 nền nhà lát đá hoa cương, 5.000 m2 sân bãi được cán bê tông. Ước tính, công trình đã sử dụng khoảng 220 tấn xi măng, 300 tấn thép. Do khu vực xây là vùng trũng nên gần 15.000 m3 đất, đá được sử dụng cho công tác san lấp mặt bằng. Tổng kinh phí hoàn thành toàn công trình gần 20 tỷ đồng.

Ngay trong tối ngày khánh thành 29/3, hàng ngàn tín đồ và người dân đã có mặt tham dự nghi lễ cung nghinh tượng Đức Phật.

Chùa Hội Khánh do Đại Ngạn thiền sư xây dựng năm 1741. Năm 1923 - 1926, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã đến đây, cùng với hòa thượng Từ Văn và nhà yêu nước Tú Cúc Phan Đình Vũ lập ra Hội danh dự yêu nước để truyền bá tư tưởng yêu nước.

Ở đây cụ Sắc dạy chữ Hán, giảng kinh Phật, đồng thời truyền bá tư tưởng yêu nước. Năm 1926, Pháp phát hiện hoạt động yêu nước ở chùa Hội Khánh và theo dõi, do đó cụ Sắc rời khỏi Thủ Dầu Một. Hiện chùa còn lưu lại đôi câu đối do cụ Sắc viết, cuốn sổ coi địa lý và một la bàn định vị.

(Tuệ Mẫn)
 
Kỷ niệm offline ngày 4/3/2012 với diễn đàn Quynhluu.net























 
Hướng dẫn tổ chức các buổi Offline hiệu quả mang lại lợi ích lâu dài

Offline là hình thức để mọi người gặp gỡ nhau và gia tăng sự gắn kết trong sự tin cậy. Đây cũng là dịp người kinh doanh chứng minh mình là con người thật, hoặc cũng có thể giới thiệu về hàng hoá và dịch vụ của mình một cách nhẹ nhàng và tinh tế.

Tuy nhiên nếu buổi offline không được tổ chức tốt thì sau vài lần số người tham dự sẽ giảm đi và mọi người sẽ không còn cảm giác hào hứng và thích thú nữa, và điều đó làm giảm đi lợi ích tích cực của nó.

Để buổi offline không chỉ hữu ích cho một lần mà còn khuyến khích sự tham gia của nhiều người hơn và quan trọng là để lại những cảm xúc tích cực trong lòng người tham gia, chúng ta cần làm như sau:

1. Chuẩn bị mục tiêu và nội dung chính sao ngắn gọn tập trung

2. Thông báo kế hoạch và đề nghị mọi người góp ý, và đăng ký tham gia (nên lấy thông tin liên lạc để tiện thông báo). Trong suốt thời gian đăng thông báo mời offline đến sau khi offline xong bạn nên thường xuyên truy cập topic và cập nhật tình hình về số người tham dự, trả lời những ý kiến góp ý phản hồi…

3. Đề nghị người tham gia đóng góp bánh, hoa quả, nước uống (nên để mọi người tự nguyện)

4. Mời những người có tầm ảnh hưởng hoặc nhiều người biết: Nếu bạn đã có kinh nghiệm tổ chức offline vài lần hoặc bạn tin tưởng nội dung buổi offline sẽ hữu ích cho nhiều người thì có thể nhờ những người có ảnh hướng đặt link dưới chữ ký để thu hút thêm sự tham gia của nhiều người. Tuy nhiên, tổ chức buổi offline đông cần rất thận trọng vì nếu không có kế hoạch và kiểm soát tốt rất có thể kết quả sẽ đi ngược với điều bạn mong muốn.

5. Trước hôm diễn ra offline nên gửi thông báo cho mọi người đăng ký, hoặc trước buổi offline nên nhắn tin SMS cho mọi người thời gian và địa điểm để mọi người không nhầm hoặc đến muộn. Nếu buổi offline đông thì bạn nên nhắn cho những người tích cực hoặc có tầm ảnh hưởng nhờ họ nhắn giúp cho những người khác nữa.

6. Các bước tiến hành cần có ít nhất 3 trong 5 yếu tố quan trọng nhưng tập trung vào chủ đề mà mọi người muốn gặp gỡ như sau:

Dành thời gian để mọi người giới thiệu và tự giới thiệu. Đặc biệt đừng quên để mọi người giới thiệu Nickname của mình trên mạng để sau offline mọi người còn nhận ra nhau.
Đề nghị mọi người chia sẻ về những điều tích cực mà cộng đồng đã mang lại cho mỗi người, và chia sẻ về những nét đặc trưng và văn hoá rất khác biệt tại cộng đồng bạn tham gia.
Nếu bạn là một người bán hàng thì hãy mời một số khách hàng và để họ nói về sản phẩm/dịch vụ của bạn, và lắng nghe phản hồi của họ cũng như khuyến khích họ nói những lời chứng tích cực của họ cho những thành viên khác về sản phẩm/dịch vụ của bạn.
Chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức để làm mọi điều tốt đẹp hơn (theo chủ đề đã chọn).
Ăn uống hoặc ca hát những bài hát tích cực (không phải là đi hát karaoke)
7. Khuyến khích người tham gia góp ý kiến cho lần gặp tiếp theo: Có thể buổi offline chưa được tốt như bạn mong đợi nhưng với góp ý và sự tham gia của nhiều người khác thì dần dần các buổi offline của bạn sẽ chuyên nghiệp và để lại ấn tượng tốt hơn cho những người tham gia.

8. Chụp ảnh và đưa lên diễn đàn: Một cách tốt là hình ảnh có cả những thông tin giới thiệu để những người chưa tham gia offline có thể nhận ra nhau. Điều này sẽ giúp cho những người không tự tin lắm có thêm can đảm tham gia các buổi offline cùng bạn.

9. Khuyến khích bình luận sau buổi gặp và khuyến khích người tham gia mời thêm. Có thể lập ra những giải thưởng hoặc hình thức bình chọn nhưng giải thưởng lại trao trong lần gặp gỡ tiếp theo. Bạn cũng không nên ngừng theo dõi topic sau khi kết thúc offline mà nên tiếp tục theo dõi để lăng nghe và trả lời phản hồi của mọi người để khuyến khích và lấy ý tưởng cho những lần tiếp theo.

10. Giới thiệu về sản phẩm và dịch vụ của bạn: Nếu bạn có kinh doanh, hãy để mọi người biết và ủng hộ bạn bằng việc giới thiệu nó một cách khéo léo và tinh tế, tránh để mọi người cảm giác mình bị lợi dụng nhưng làm sao để họ muốn giúp bạn.

Chú ý:

Để chia sẻ công việc tổ chức sao cho bài bản và chuyên nghiệp hơn, bạn nên hợp tác với một vài người bạn đáng tin cậy tại diễn đàn, fanpage bạn tham gia. Tốt nhất là người đó là người có uy tín tại diễn đàn hoặc đã có thời gian tham gia diễn đàn đủ lâu.
Mục đích của mọi buổi offline là tạo được sợi dây gắn bó cảm xúc tích cực và gắn kết mọi người gần gũi với nhau hơn nữa, do đó phải làm sao giảm tối thiểu những yếu tố tiêu cực, gia tăng cảm xúc tích cực.
Chỉ nên mời những người có thái độ vui vẻ hoà đồng, tích cực, thân thiện tham gia và nên loại bỏ những người không phù hợp để tránh những xung đột không nên có.
Đừng quên đánh giá, rút kinh nghiệm và chia sẻ cùng nhau.
Hãy nhớ rằng cuộc sống là dài hạn, chúng ta duy trì và vun đắp những tình bạn tích cực thì kết quả có lợi sẽ bền lâu và tăng trưởng tốt đẹp hơn.

(Nguồn: Lamchame forum)
 
Hiểu hơn về chị - Huỳnh Tiểu Hương


Đói, rét, bệnh tật và giá bụi vẫn không che nổi cái khuôn mặt khả ái của tuổi dậy thì mà trời phú cho Hương. Nhưng ông trời sao oái oăm dường vậy. Cái đẹp hoang dại của cô lại trở thành miếng mồi béo bở cho những ham muốn tồi bại trong những đêm ga xép không người thân, giữa bầy quỹ dữ. Những kẻ không còn chút tính người đã tìm mọi cách để cưỡng đoạt Hương, nếu bị cự tuyệt, chúng không tiếc tay đánh đập dã man. Có lần, cô còn bị chung cắt gân chân, rạch cổ để khỏi la, khỏi chạy trốn. Lần khác thì chúng dí dầu thuốc lá đỏ rực vào ngực, vào bụng Hương. Cô đau đớn thét lên, mùi thịt cháy khét lẹt...

Huyền Thoại Huỳnh Tiểu Hương


Cô là một con người có quãng đời như một huyền thoại khiến cho giới báo chí trong và ngoài nước không tiếc giấy mực. Cô là người khiến cho giới kinh doanh bất động sản ở Sàigon phải kính nể. Và cô cũng là người mà hàng ngàn đứa trẻ bụi đời lang thang khắp mọi miền Trung, Nam, Bắc yêu thương gọi là Mẹ…

Tuổi thơ: Cát và Bụi…


Mình là ai? Ai sinh ra mình? Đâu là nơi chôn rau cắt rốn, là nơi mình cất tiếng chào đời…? Đã bao lần Hương tự hỏi chính mình và cũng từng ấy lần Hương phải nén giọt lệ sấp sửa tràn mi. Hương chỉ đoán mình sinh năm 1965-1968 gì đó. Quá khứ chỉ còn đọng lại trong Hương là cái nắng, cái gió rát bỏng của miền Trung. Ngày ấy, có một cô bé lẽo đẽo theo một bà lão lưng đã còng xuống bởi gánh nặng cơm áo, như bao kẻ hành khất khác, lang thang trên sân ga, xòe bàn tay gầy guộc trước cửa toa tàu xin từng mẩu bánh…Bà lão ấy tên gì, Hương cũng không biết nốt…Thời gian và cuộc mưu sinh nhọc nhằn khiến cho bà lão như ngọn đèn lay lắt trước gió. Năm 1978, trên một chuyến tàu tình cờ, bà lão hành khất gặp một cặp vợ chồng là giáo viên ở Vĩnh Phú. Hương được ông bà có tên tắt là V.N. nhận nuôi. Cuộc đời của cô bé ăn xin tưởng chừng như sang một trang mới sang sủa. Nhưng tấm lòng nhân ái của ông bà V.N. không thắng nổi sự cay nghiệt của cuộc vật lộn với miếng cơm, manh áo…Không chịu nổi đòn roi, Hương đành bỏ trốn…

Không biết đi đâu, về đâu, những chuyến tàu Bắc Nam lại đón trở lại cô bé ăn xin ngày nào. Hương lủi thủi, lay lắt kiếm từng miếng ăn bằng mọi cách: xin ăn, bán thuốc lá lẻ, trà đá, thuốc chữa bệnh hắc lào…Cái bài thuốc chữa hắc lào Hương nhớ lắm. Những ngày tháng đó, Hương chỉ có một bộ quần áo mặc trên người. Tắm ao, tấm hồ xong, quần áo vừa vắt chưa hết nước là mặc ngay nên người đầy ghẻ lở. Có một chú bộ đội mách cô cách chế bài thuốc chữa. Cứ lấy bồ hóng trộn với dầu lửa, ngâm cho có mùi rồi đem bôi vào chỗ lở là khỏi…Cứ vậy, Hương lớn dần lên theo các chuyến tàu trong đói, trong rét, trong tuổi nhục và những cú đấm đá, cái bạt tai nổ đom đóm mắt của những kẻ du côn, du đãng…

Bông hoa hoang dại và…cạm bẫy!


Đói, rét, bệnh tật và giá bụi vẫn không che nổi cái khuôn mặt khả ái của tuổi dậy thì mà trời phú cho Hương. Nhưng ông trời sao oái oăm dường vậy. Cái đẹp hoang dại của cô lại trở thành miếng mồi béo bở cho những ham muốn tồi bại trong những đêm ga xép không người thân, giữa bầy quỹ dữ. Những kẻ không còn chút tính người đã tìm mọi cách để cưỡng đoạt Hương, nếu bị cự tuyệt, chúng không tiếc tay đánh đập dã man. Có lần, cô còn bị chung cắt gân chân, rạch cổ để khỏi la, khỏi chạy trốn…Lần khác thì chúng dí dầu thuốc lá đỏ rực vào ngực, vào bụng Hương…Cô đau đớn thét lên, mùi thịt cháy khét lẹt…

Không chịu đựng nổi sự phập phòng lo sợ đến từng miếng ăn, giấc ngủ…Hương phải lần mò đi nơi khác kiếm sống. Ông trời vẫn chưa hé ra cho cô một lối thoát. Hương lạc vào đoàn người đi đào đãi vàng lên miền Tây Nghệ An, Hà Tĩnh…và rơi vào chốn địa ngục trần gian…Hương phải vắt kiệt tất cả sức lực đào đãi kiếm từng mảnh vụn vàng để đổi lấy miếng ăn. Có những lần miếng cơm đã vào đến miệng rồi còn bị đánh đến trào máu mồm, máu mũi bởi sự tàn ác của chủ Bưởng. Tai phải của Hương đã điếc vì những trận đòn thừa sống, thiếu chết ở đây. Một lần nữa, Hương phải chạy trốn khỏi cái địa ngục khủng khiếp này…



Năm 1986, bàn chân tha phương của Hương đã đặt chân lên đất Sàigòn. Ban ngày, cô ra bến xe miền Đông lau xe dù để mong kiếm miếng cơm thừa. Buổi tối, phải ngủ trên những chiếc cầu bắc ra hố xí ở những dãy ao nuôi cá tra, ven sông Sàigòn để tránh bị kẻ xấu rình rập…Một ông chủ xe tốt bụng tên Huỳnh Văn H. thấy cô hiền lành, chăm chỉ đã nhận Hương về làm con nuôi…Và cũng chính nhờ ông H. cô bé vô gia cư đáng thương đó mới có họ, có tên, có hộ khẩu như bây giờ…Tuy nhiên, sự cay nghiệt của miếng cơm manh áo và sự ganh ghét của những người trong gia đình đã làm tang vỡ hạnh phúc quá monh manh của kẻ bụi đời. Hương lại phải ra đi…Mang theo bé Anh Đào - một đứa bé bị bỏ rơi đáng thương – cô trôi dạt khắp Sàigòn. Ban ngày hai mẹ con Hương sống lay lắt bằng việc bán cà phê, bán bánh, kẹo cao su…Và bằng chút cơm thừa canh cặn nơi quán xá…Ban đêm, vỉa hè, khu nhà hoang ở công viên, cầu tiêu là chốn náu than chập chờn của hai mẹ con…Thê lương là vậy nhưng Hương đâu có được yên. Sự đói khát, vẻ đẹp hoang dại giữa chốn đô thành lại xô cô vào những đọa đầy đớn đau tủi nhục. Có lần cô bị hơn 10 tên vô loại bắt cóc ra một ngôi nhà hoang ở đầu cầu Sàigòn, hành hạ đến ngất xỉu. Chưa thỏa mãn thú tính, chúng lột và xé nát bộ quần áo duy nhất của Hương. Lần khác, có một gã Sở Khanh nói yêu cô rồi tìm cách lừa gạt đem bán Hương cho nhà chứa ở Vũng Tàu. Sau gần nửa tháng ngập ngụa trong chốn bùn nhơ, Hương mới thoát ra được. Đau đớn, tuổi nhục, hận đời, hận người…Nhiều lần Hương leo lên cầu Sàigòn định tự vận…Điều duy nhất để cô tồn tại lúc bấy giờ là tình thương đối với bé Anh Đào. Không có cô, bé Anh Đào sẽ sống ra sao? Cuộc đời tha phương gió bụi một minh Hương là đủ lắm rồi…!

Bước ngoặt, nhà địa ốc, nữ Giám Đốc và người Mẹ…


Vô tình quen biết, chứng kiến tình thương bao la của cô đối với đám trẻ bụi đời, một người Đài Loan tốt bụng tên là Chảo Lai Wang đã cảm phục Hương và nhận cô làm con nuôi. Ngày 10-12-1989, cuộc đời Hương sang trang mới. Ông bố nuôi đã cho Hương 20 lượng vàng. Từ số tiền đó và với sự kinh doanh ngây thơ nhưng đầy may mắn, Tiểu Hương mua được một căn nhà ở quận 10 với một chiếc xe du lịch cho khách nước ngoài thuê. Có nhà, ngay lập tức, cô đón hơn 20 đứa trẻ bụi đời về ở…Hạnh phúc tiếp tục mỉm cười với cô gái quá bất hạnh. Chưa đầy hai năm làm “cò” đất và dịch vụ cho thuê xe, Hương sở hừu chiếc xe, bốn năm căn nhà và hàng ngàn mét vuông đất. Khi cơn sốt đất bùng lên, những căn nhà, mảnh đất kia đã giúp Hương trở thành Tỷ Phú lúc nào không hay…


Thời điểm năm 1999, giới kinh doanh địa ốc Sàigòn biết tiếng cô như một “đại gia” khét tiếng. Cũng năm 1999, cô bỏ ra $20,000.00 dollars xây nên xưởng sản xuất nước tinh khiết Ultra-V do cô làm Giám Đốc, tạo công ăn việc làm cho hàng chục đứa trẻ mới vào đời.

Có tiền tỉ trong tay, Hương mua ngay đất ở Long Thành – Đồng Nai, xây nhà và rước hơn 40 đứa trẻ bụi đời vào chăm sóc. Sau đó, cô tiếp tục xây nhà ở Bình Dương, Đà Nẵng…để đón những đứa trẻ lang thang…Nghe ở đâu có trẻ sơ sinh bị bỏ rơi là cô tìm đến đón về. Hương tằn tiện từng đồng để dành cho những đứa trẻ cù bất cù bơ này. Thậm chí làm Giám Đốc nhưng Hương không thuê phó Giám Đốc bởi “thuê họ thì phải trả tiền 1-2 triệu mỗi tháng. Số tiền đó có thể nuôi được 10 cho đến 20 đứa trẻ…!” Những bữa ăn trong nhà, nếu không phải đi xa, tự Hương đi chợ mua đồ về và tự nấu nướng bởi lý do hết sức đơn giản “tiết kiệm được 500 đồng, 1000 đồng là một đứa con sẽ có quà, có bánh…”

Tết Nhâm Ngọ vừa qua, Hương đón tết trên đường phố với những đứa trẻ lang thang. Hương nấu 6,000 cái bánh chưng. Ngày 28 tết, đích thân cô chở bánh bằng xe Honda lang thang khắp mọi nơi từ Sàigòn cho đến Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương…phân phát cho những đứa trẻ còn lang thang trên đường phố. Cứ đi như vậy cho đến tận ngày mùng 3 Tết cô mới vế tới nhà. Đến bây giờ hỏi cô có bao nhiêu đứa con, bà mẹ trẻ đó chỉ lắc đầu: “con Hương ở khắp mọi miền, tên cũng không nhớ hết…Đi đến đâu, Hương cũng được chúng gọi là mẹ…hạnh phuc lắm!”




Từ quãng đời gió bụi bất hạnh cua mình, Hương hiểu giá trị của mái ấm gia đình, của tình thương, sự học hành…Vì vậy, những đứa con của Hương đều được ăn học đầy đủ và đều mang họ Huỳnh. Trong vòng tay, trong tình yêu thương vô hạn của Hương, những đứa con như Nghi, Nhi, Huệ , Anh Đào…lớn dần. Có em đã được vào đại học…Sinh Nhật Hương ngày 10-12-2000 (Hương không biết ngày mình sinh ra, cô coi cái ngày 10-12-1989 bước ngoặt thay đổi cuộc đời mình, làm ngày sinh), Hương nhận được hơn 700 tấm thiệp vụng về do những đứa con tự làm lấy. Và cô đã khóc, giọt nước mắt sung sướng nhất trong cuộc đời…Năm nào cũng vậy, vào ngày sinh nhật, Hương lai tìm những đứa trẻ lang thang về và chiêu đãi chúng bằng một bữa tiệc thật lớn do chính tay mình nấu nướng. Hương tâm sự: “Niềm hạnh phúc duy nhất của đời Hương bây giờ là những đứa con. Vắng chúng một ngày là Hương muốn bệnh liền à…Nếu ai chia cắt Hương với các con, có lẽ Hương chắc hết muốn sống!”

Thực tại và nhánh hoa Lan…

“Kể từ khi các báo đài viết đăng bài, Hương buồn tột đỉnh. Buồn vì sao à? Vì quá khứ đau đớn lại hiện về. Hương đóng cửa nằm trong nhà tới hai ngày, không ăn uống, khóc hết nước mắt…Nhưng sau hai ngày Hương lai vui hết biết. Anh biết vì sao không? Mỗi ngày Hương nhận được trên 300 lá thư, hàng chục cú điện thoại, tiếp rước và nói chuyện hàng chục ngàn người tít tận từ Hưng Yên cho đến vịnh Cà Mau…Họ cứ cảm ơn hoài…và bảo là Hương đã giúp họ tỉnh ngộ, giúp gia đình, con cái họ hạnh phúc…”

Vâng tôi tin và hiểu bởi quãng đời phiêu dạt cùng ý chí và tình nhân ái bao la của Hương đã đánh thức những cuộc đời đang chìm đấm vào vòng xoáy khốc liệt của cơ chế thị trường…”Mấy hôm trước, Hương lại nhặt được 4 đứa trẻ sơ sinh bị bỏ rơi. Một đứa trong thùng rác, một đứa ở gốc cây, thịt da còn đỏ hỏn…Cũng là người sao ai ác quá…!”. Đang vui, bất chợt Hương lại sững lại, mắt hoe hoe…Tôi cũng lặng đi, trong cả những giây phút vui sướng, Hương vẫn nhức nhối bởi những nổi đau của những đứa trẻ bị bỏ rơi…



Chị Tiểu Hương chuẩn bị quà trung thu cho các em

Đến khi nào Hương mới tính chuyện lập gia đình? Tôi phá vỡ khoảng lặng đang ngự trị. Có nhiều anh đến với Hương lắm nhưng họ vì nhiều mục đích không tốt! Hình như không có người đàn ông nào dễ cảm thông cho quá khứ của Hương và cũng chưa thấy người nào có cùng tình yêu trẻ với Hương…Hương sợ đàn ông lắm…! Với lại Hương chỉ biết yêu con à…! Hương thật thà. Ngày quốc tế phụ nữ này, Hương thích điều gì nhất? Tôi tiếp tuc. Ngoại trừ các con, Hương không biết thích gì nữa. À…hoa Lan…Hương thích hoa Lan lắm…Trước đây có người bạn gái hay tặng một nhánh Lan cho Hương vào các ngày lễ…Giờ thì không thấy tặng nữa…! Và tôi cũng biết, không chỉ không còn được tặng hoa Lan, trong các ngày lễ Tết, ngoại trừ những món quà nho nhỏ, khi thì cái bánh, cái kẹo của những đứa con, Hương cũng chưa bao giờ nhận được một bông hoa nào khác…!



(Nguồn: http://my.opera.com/tieulongnu_192/blog/hi-u-hon-v-ch-hu-nh-ti-u-huong )

Một số hình ảnh kỷ niệm với chị Huỳnh Tiểu Hương





 
Tham quan địa đạo Củ Chi















 
























 
Địa đạo Củ Chi -Đất thép thành đồng
Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng đất ở huyện Củ Chi, cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng tây-bắc. Hệ thống này được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đào trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam. Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất. Hệ thống địa đạo dài khoảng 200 km và có các hệ thống thông hơi vào các vị trí các bụi cây. Địa đạo Củ Chi được xây dựng trên vùng đất được mệnh danh là "đất thép", nằm ở điểm cuối Đường mòn Hồ Chí Minh. Trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã sử dụng hệ thống địa đạo này để tấn công Sài Gòn.

Mô hình địa đạo Củ Chi

Một phần địa đạo Củ Chi
Lịch sử
Địa đạo Củ Chi là cách gọi chung của các hệ thống địa đạo khác nhau, được hình thành từ khoảng thời gian 1946-1948, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Thời gian này, quân dân hai xã Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An đã đào những đoạn hầm ngắn, cấu trúc đơn giản dùng để ẩn nấp, cất giấu tài liệu, vũ khí. Cũng có ý kiến cho rằng việc đào địa đạo khởi đầu do dân cư khu vực này tự phát thực hiện vào năm 1948.™
Cư dân khu vực đã đào các hầm, địa đạo riêng lẻ để tránh các cuộc bố ráp càn quét của quân đội Pháp và để cung cấp nơi trú ẩn cho quân Việt Minh. Mỗi làng xây một địa đạo riêng, sau đó do nhu cầu đi lại giữa địa đạo các làng xã, hệ thống địa đạo đã được nối liền nhau tạo thành một hệ thống địa đạo liên hoàn, phức tạp, về sau phát triển rộng ra nhiều nơi, nhất là 6 xã phía Bắc Củ Chi và cấu trúc các đoạn hầm, địa đạo được cải tiến trở thành nơi che giấu lực lượng, khi chiến đấu có thể liên lạc, hỗ trợ nhau.
Trong thời gian 1961–1965, các xã phía Bắc Củ Chi đã hoàn thành tuyến địa đạo trục gọi là "xương sống", sau đó các đoàn thể, cơ quan, đơn vị phát triển địa đạo nhánh ăn thông với tuyến trục hình thành những địa đạo liên hoàn giữa các ấp, các xã và các vùng. Bên trên mặt đất, quân dân Củ Chi còn đào cả một vành đai giao thông hào chằng chịt nối kết với địa đạo, lúc này địa đạo chiến đấu cũng được đào chia thành nhiều tầng, nhiều ngõ ngách. Ngoài ra, bên trên địa đạo còn có rất nhiều ụ chiến đấu, bãi mìn, hố đinh, hầm chông... được bố trí thành các cụm liên hoàn tạo ra trận địa vững chắc trong thế trận chiến tranh du kích, gọi là xã chiến đấu.
Đến năm 1965, có khoảng 200 km địa đạo đã được đào. Về quy mô, hệ thống địa đạo có tổng chiều dài toàn tuyến là trên 200 km, với 3 tầng sâu khác nhau, tầng trên cách mặt đất khoảng 3 m, tầng giữa cách mặt đất khoảng 6 m, tầng dưới cùng sâu hơn 12 m. Lúc này, địa đạo không chỉ còn là nơi trú ẩn mà đã trở thành nơi sinh sống, cứu thương, hội họp, kho chứa vũ khí...
Đặc điểm
Địa đạo được đào trên một khu vực đất sét pha đá ong nên có độ bền cao, ít bị sụt lở. Hệ thống địa đạo nằm sâu dưới lòng đất, có thể chịu được sức công phá của các loại bom tấn lớn nhất của quân đội Mỹ. Không khí được lấy vào địa đạo thông qua các lỗ thông hơi. Các khu vực khác nhau của địa đạo có thể được cô lập khi cần.
Ðường hầm sâu dưới đất từ 3 - 8m, chiều cao chỉ đủ cho một người đi lom khom. Căn hầm đầu tiên ở ngay bìa rừng có giếng ngầm cung cấp nguồn nước uống và sinh hoạt cho toàn khu vực địa đạo. Hệ thống địa đạo gồm 3 tầng, từ đường "xương sống" toả ra vô số nhánh dài, nhánh ngắn ăn thông nhau, có nhánh trổ ra tận sông Sài Gòn. Tầng một cách mặt đất 3m, chống được đạn pháo và sức nặng của xe tăng, xe bọc thép.
Tầng 2 cách mặt đất 5m, có thể chống được bom cỡ nhỏ. Còn tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu... Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.
Cuộc sống dưới địa đạo
Cuộc sống dưới địa đạo thiếu ánh sáng, ẩm ướt và nóng bức và điều kiện vệ sinh kém nên hầu như đa số những người sống ở địa đạo đều bị ký sinh trùng, bạc da và các bệnh về xương. Ngoài ra, việc thiếu thốn lương thực, thực phẩm và nhu yếu phẩm cũng là vấn đề lớn nhất của cư dân địa đạo.
Sự tấn công của quân đội Mỹ và các đồng minh vào địa đạo
Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã liên tục tấn công vào hệ thống địa đạo bằng đủ phương tiện: bom, bơm nước vào địa đạo, hơi ngạt... nhưng do hệ thống địa đạo được thiết kế có thể cô lập từng phần nên bị hư hại không nhiều. Quân đội Mỹ đã áp dụng nhiều biện pháp để phát hiện các cửa vào (được ngụy trang) và phát hiện các cửa thông gió (thường được đặt giữa các bụi cây). Biện pháp hữu hiệu nhất là sử dụng chó nghiệp vụ. Ban đầu có một số cửa vào và lỗ thông gió bị chó nghiệp vụ phát hiện do chó ngửi được hơi người. Tuy nhiên, sau đó, những người ở dưới địa đạo đã dùng xà phòng của Mỹ đặt ở cửa hầm và cửa thông gió nên chó nghiệp vụ không thể phát hiện ra.
Địa đạo Củ Chi ngày nay
Ngày nay, địa đạo Củ Chi còn khoảng 120 km được bảo vệ và đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn cho du khách đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh. Du khách, đặc biệt là cựu chiến binh, thường chọn điểm thăm quan này khi đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh. Du khách được trải nghiệm cuộc sống dưới địa đạo như những cư dân thực thụ trước đây (được thăm quan, ăn uống những món ăn của cư dân địa đạo trước đây).
Khu địa đạo Bến Dược (thuộc ấp Phú hiệp, xã Phú Mỹ Hưng - huyện Củ Chi) đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử quốc gia (theo quyết định số 54/VHQĐ ngày 29 tháng 4 năm 1979 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa). Hệ thống địa đạo Bến Đình (thuộc xã Nhuận Đức - căn cứ của Huyện ủy Củ Chi trong thời kỳ kháng chiến) cũng được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia (theo quyết định số 101/2004/QĐ-BVHTT ngày 15 tháng 12 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin).
Ngoài ra, địa đạo Tân Phú Trung (còn gọi là địa đạo Cây Da tại ấp Cây Da, xã Tân Phú Trung, huyện Củ Chi) cũng đã được chuẩn bị xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa.
Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi
Hiện nay, Ban Quản lý Khu di tích lịch sử Địa đạo Củ Chi (trực thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Hồ Chí Minh) trực tiếp quản lý cả hai di tích địa đạo Bến Dược và địa đạo Bến Đình. Khu di tích gồm có hệ thống địa đạo (Bến Dược, Bến Đình), đền Bến Dược, khu quản trị, khu dịch vụ, khu vực tái hiện vùng giải phóng và vành đai diệt quân Mỹ, khu du lịch sinh thái - giải trí ven sông Sài Gòn.
Địa chỉ :Ấp Phú Hiệp, xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi . Thuộc quyết địng 54/VHQĐ ngày 29/4/1979 của bộ văn hóa - thông tin .
Tên gọi Đền Bến Dược
Trước đây, nơi đây là địa điểm vượt qua sông Sài Gòn để đi qua các tỉnh Đông Nam Bộ khác. Nhưng do người ở đây là người Nam bộ nên từ "Bến Vượt" đã bị nói trại đi thành "Bến Dược" ("Bến Dược" ở đây không là bến, hay trung tâm, cung cấp thuốc).
Bến Dược là tên gọi của vùng đất Phú Mỹ,PHú Thuận từ năm 1929, nay thuộc xã Phú Mỹ Hưng. Địa danh Bến Dược có trước khi mấy ông bộ đội miền Bắc vô Nam, nên cứ nói Bến DƯợc là Bến Vượt thì...nói ngược,chứ không phaỉ nói ngọng.

Một lối vào địa đạo


Một số bẫy chông , bẫy xoay của du kích CỦ CHI


Một số hình ảnh về du kích CỦ CHI dc tái hiện lại


Đào địa đạo, việc làm suốt 30 năm của quân và dân Củ Chi. Chiến hào và địa đạo là hệ thống liên hoàn phục vụ cho chiến đấu- chiến thắng.
 
Kỳ quan giữa lòng đất thép
TT - Có một công trình kỳ diệu của nhân dân TP.HCM: địa đạo Củ Chi. Đó là hệ thống đường hầm ngầm trên 200km trong lòng đất; vừa là căn cứ địa, vừa là nơi trú ẩn, vừa là công sự chiến đấu...
Điều lạ thường là địa đạo nằm giữa lòng địch, bị phong tỏa bởi bốn bề đồn bót và nằm sát nách thủ đô của bộ máy chiến tranh Mỹ - ngụy. Và trên 10.000 chàng trai, cô gái Củ Chi đã đổ máu xương để thành hào thành lũy. Những con người bình dị chân đất ấy đã làm cách nào tạo nên một kỳ quan như thế?...
Nhuận Đức những năm chống Mỹ với hệ thống địa đạo chừng trên 11km, một bộ phận hợp thành của hệ thống địa đạo huyền thoại trên 200km Củ Chi, là tử địa của hàng chục ngàn Mỹ - ngụy. Ông Tư Cậm, nguyên chính trị viên xã đội Nhuận Đức những năm đánh Mỹ, nói chắc: “Ngày nào tụi Mỹ càn vô Nhuận Đức thì thế nào bên kia trái đất cũng có những bà mẹ, bà vợ khóc con khóc chồng”.
Đào hầm suốt... 15 năm
Nhuận Đức ngày xưa không xanh tươi như bây giờ mà trắng xác trắng xơ, lại lọt thỏm giữa bốn bề đồn bót: bót An Nhơn Tây, bót Trung Hòa, bót Phú Hòa Đông, bót cầu Bến Mương, huyện lỵ Củ Chi và sau này là căn cứ Đồng Dù của sư đoàn dù 25 Mỹ “Tia chớp nhiệt đới”. Do vậy khi đi càn, dù xuất phát từ bất cứ hướng nào, địch cũng phải càn qua Nhuận Đức.
Cũng chính ở trong thế “cái túi” như vậy nên lực lượng cách mạng Nhuận Đức chỉ còn một cách bám trụ tại chỗ chứ không thoát ra đường nào được. Năm 1960, sau phong trào đồng khởi, địch càng tăng cường ruồng bố, tình hình cách mạng càng thêm cam go. Nhiều đồng bào, đồng chí hi sinh. Lực lượng cách mạng ngày càng mất mát...
Trước tình hình đó, đảng ủy xã Nhuận Đức đã quyết định phải đào địa đạo, lấy đó làm hệ thống trú ẩn và phòng thủ phản công, phòng thủ tiến công. Lúc này ở Nhuận Đức còn một đoạn địa đạo dài trên 500m từ thời kháng chiến chống Pháp còn lại, được khôi phục và nối rộng ra.
Bắt đầu từ năm 1961, xã Nhuận Đức phát động phong trào đào địa đạo. Già trẻ gái trai, nam phụ lão ấu, tất cả không phân biệt thành phần đều rùng rùng lao vào trận mới. Trai tráng từng tổ 3-4 người làm một, thay phiên nhau người trước đào đất, người sau cào đất ra sau, xúc vào ki tre, người trên mặt đất kéo lên. Khắp các ụ cây, khắp các bìa rừng từng nhóm người lố nhố.
Người trước mệt, người sau thay. Người trước ngã, người sau tiến. Người già đan ki, trẻ con múc nước, đàn ông đào, phụ nữ nấu cơm nấu khoai... Các ấp, các làng hừng hực khí thế cách mạng. Công việc anh hùng đó không chỉ diễn ra một tháng, một năm. Kỳ diệu thay, nó được duy trì liên tục, liên tục suốt 15 năm, bất kể nắng mưa, bất kể mưa bom bão đạn, cho tới ngày cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc dinh Độc Lập.
Chính trong những ngày đào hầm đánh giặc đó, nhiều chàng trai cô gái đã hiểu nhau, thương yêu nhau, lấy nhau để cả nhà cùng đào hầm đánh giặc. Như vợ chồng Chín Ảnh - Chín Lan, lúc đó ông là bí thư xã đoàn, 18 tuổi, bà là ủy viên ban chấp hành, 17 tuổi; hay như các cặp Hai Nên - Hai Dìn; Gình - Sung; Tét - Sa; Quợt - Ghe... Những đôi uyên ương ngày xưa giờ này người còn người mất. Có người vinh danh liệt sĩ anh hùng…
Lứa trai tráng ngày đó 16 tuổi như ông Út Kang, 17 tuổi như ông Tư Cậm, 18 tuổi như ông Chín Ảnh… giờ đã trên 60. Đó là những chàng trai đầu tiên cắm nhát cuốc vào lòng đất đào địa đạo thời chống Mỹ. Vật dụng đào là một lưỡi cuốc cùn, dân địa phương gọi là cuốc ngao, cán ngắn chừng 3-4 tấc.
Bắt đầu là đào miệng thí, trổ từ trên mặt đất thẳng xuống như đào giếng. Nhưng miệng thì rất hẹp, đường kính chừng 6 tấc. Đào sâu xuống chừng 4-5m thì miệng thí trổ ngang. Lúc này cuốc ngao mới phát huy tác dụng: người đào phải làm việc trong tư thế ngồi, mò mẫm đào từng nhát cuốc giữa lòng đất tối đen như mực. Một phần vì đào từng đoạn ngắn, nhưng quan trọng hơn là đào hẹp và sâu dưới lòng đất, thiếu dưỡng khí nên một đường hầm thường chỉ có hai người làm việc. Hai người khác - có khi chỉ một - ở bên ngoài cửa hầm kéo đất lên.
Quy cách chuẩn được phổ biến của địa đạo là chiều rộng khoảng 9 tấc, chiều cao khoảng 1,1m. Với kích thước này, người du kích quen thuộc và thông thạo lòng đất có thể khéo léo di chuyển nhanh nhẹn bằng tư thế lom khom, nhưng đối với người lạ thì điều đó cực kỳ khó khăn.
Đặc biệt là bằng kinh nghiệm dân gian, những người đào địa đạo đều linh cảm được mạch nước ngầm ở đâu đó nên thường xác định đường địa đạo luôn cách mặt nước ngầm khoảng 1,8-2m. Mỗi miệng thí cách nhau 10m. Như vậy mỗi tổ đào mỗi bên 5m. “Khi nào “phụp” với nhau (hai đoạn địa đạo thông nhau) thì miệng thí được lấp lại. Cứ thế các đoạn địa đạo được nối rộng ra, mỗi ngày một chút.
“Xương sống”, “nút chai” và lỗ thông hơi kỳ diệu
Lòng địa đạo không thẳng mà ngoằn ngoèo uốn khúc, ngoắt qua ngoắt lại. Ông Út Kang giải thích: là để tránh trái (lựu đạn) của địch. Lắm khi địch dò ra miệng địa đạo, lò dò đuổi theo và tung trái nổ nhưng miểng lựu đạn chẳng ăn thua gì với những ngóc ngách trong lòng đất.
Dọc theo trục chính của đường “xương sống” địa đạo, từng tổ du kích sẽ đào thêm những đường xương cá rẽ ra hai bên chằng chịt hơn nữa. Các đường xương cá này thường là các điểm trú ẩn, hoặc ổ chiến đấu cá nhân mà mỗi chiến sĩ du kích quân bảo quản cho riêng mình, người khác đi vào có thể bị lạc. Thậm chí, do điều kiện hoạt động bảo mật nên những người du kích đồng chí với nhau, dù trong trường hợp khẩn cấp nào cũng rất ít khi cho đồng đội ẩn náu trong đường xương cá của mình.
Có lần một người bạn chiến đấu trên đường đi công tác về gặp địch càn, ông Út Kang kéo đại xuống đường địa đạo của mình nhưng vẫn buộc đồng chí đó tuân thủ nguyên tắc: “Cho tui “bịt mù” (bịt mắt) anh lại...”. Cuối ngày khi địch rút, ông đưa bạn lên mặt đất, tháo khăn bịt mắt. Các đường xương cá này có khi được bố trí chằng chịt gần nhau, nhiều vách đất chỉ cách chừng 2-3 tấc. Chính nhờ thế nên khi bị lộ hoặc bị tấn công, du kích chỉ cần co chân đạp vách để lần sang đường khác.
Gọi là đúng quy cách chiều ngang, bề cao nhưng ở rất nhiều đoạn sự bố trí về kích thước của địa đạo hết sức lắt léo và thông minh. Ở nhiều đoạn, địa đạo ở ngoài to, sâu vào trong nhỏ lại như toi nơm cá. Ở những đoạn này bên trên được bố trí những khúc gỗ tròn ép sát vách đất, đầu có cột dây thừng, vót thuôn đầu to đầu nhỏ theo chiều tương ứng của địa đạo như cái nút chai.
Khi địch phát hiện và dò theo đường hầm đuổi theo, tung lựu đạn hoặc bơm khí độc vào lòng hang thì người du kích chỉ cần giật “nút chai”, đóng địa đạo lại. Sức ép của trái nổ nếu càng mạnh thì càng ép “nút chai” kín hơn, không cho khí độc len vào địa đạo. Cũng nhờ cái “nút chai” thông minh đó mà năm 1963, khi địch đi càn bắt được một nông dân, tra tấn người này dã man và cột dây vào lưng buộc dẫn đường xuống địa đạo. Du kích địa đạo phát hiện và chờ khi người nông dân vừa qua là giật “nút chai”, cắt dây cứu người.
Trong chiến dịch mang tên Cedar Fall (bóc vỏ trái đất) mở màn từ 8-1-1967, địch dùng “đội quân chuột cống” gồm 600 tên lính công binh được tuyển chọn từ những tên nhỏ thó, huấn luyện cách đánh phá địa đạo. Bọn “chuột cống” phiên thành mỗi tổ 2-4 tên, trang bị mặt nạ phòng độc, tiểu liên cực nhanh, lủng lẳng lựu đạn, thuốn sắt, dao găm, máy thổi lùa chất độc... luồn sâu xuống đất. Thế nhưng gặp phải những “nút chai” thông minh, chúng chỉ phá hủy được vài đoạn địa đạo không đáng kể, lại bị thiệt hại nặng nề. “Đội quân chuột cống” bất lực và thất bại.
Không ai tính toán được là cần bao nhiêu lỗ thông hơi cho hệ thống địa đạo nhưng khả năng kỳ diệu của những người du kích Củ Chi bấy giờ đã làm được điều ấy. Ít thì sẽ thiếu dưỡng khí; nhiều thì dễ tạo cơ hội cho địch phát hiện, nhất là chúng dùng lực lượng quân khuyển - loại becgiê lai chó sói Đức - để đánh hơi phát hiện.
Lỗ thông hơi hình cái phễu, miệng như cái chén ăn cơm úp lại, được xoi thẳng lên trên bằng một khe nhỏ. Miệng lỗ được ngụy trang rất khéo léo: có thể trổ ra một bụi tre, bụi tầm vông, một gốc cây hoặc một ụ gò mối... Tuy nhiên tất cả kiểu ngụy trang đó chỉ che được mắt người chứ không giấu được mũi chó. Nhiều tổn thất đã xảy ra.
Bằng kinh nghiệm dân gian, du kích giã nhuyễn ớt, hạt tiêu thành bột rắc bên trên để chó không đánh hơi được. Nhưng khổ nỗi tụi lính Mỹ ranh ma cũng thừa sức phát hiện lỗ thông hơi khi thấy bọn quân khuyển... sặc sụa. Cuối cùng du kích phải nhờ người vào nội thành mua các loại dầu tắm, xà bông của lính Mỹ về bôi ở bên trên. Bọn chó Mỹ nghe mùi “anh em” thì chỉ biết thè lưỡi nhe răng ngơ ngác.
Hệ thống địa đạo dưới lòng đất còn được kết nối với hệ thống chiến hào chằng chịt trên mặt đất. Dọc tuyến hàng trăm kilômet chiến hào, ở bất cứ đâu cũng có thể gặp những ụ chiến đấu. Giữa các ụ chiến đấu thường là một miệng địa đạo. Từ lòng địa đạo, du kích xuất hiện, len theo chiến hào, dựa vào các ụ chiến đấu tấn công địch. Khi địch phát hiện phản công, lại theo đường hào rút vào lòng đất...
ĐẶNG ĐẠI
 
Bên cây Sakusa “mankai" trong lễ hội GENKI Nhật Bản tại công viên 23/9





 
Hào hứng lễ hội Genki Nhật Bản giữa Sài Gòn
(TNO) Sáng 14.4, lễ hội Genki Nhật Bản 2012 đã khai mạc tại Công viên 23.9 (TP.HCM) với nhiều hoạt động hấp dẫn, hướng tới kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản (1973 - 2013).
Lễ hội Genki năm nay thu hút hàng trăm khách tham gia, trong đó có cả du khách nước ngoài.
Công viên 23.9 trở nên sinh động hơn với việc trưng bày hoa anh đào tươi, những tác phẩm nghệ thuật xếp giấy đặc sắc đến từ câu lạc bộ Origami TP.HCM, những món ăn độc đáo đến từ Nhật Bản và Việt Nam.
Giữa trưa hè nóng bức của Sài Gòn, nhiều bạn trẻ tham gia lễ hội vẫn miệt mài thử sức với trò chơi truyền thống Kendama (tung quả bóng trở lại đúng vị trí trên đầu gậy), háo hức mặc thử bộ trang phục Kimono hay ngồi bất động để họa sĩ Nhật Bản Yuka Tao và Etsuko Takahashi vẽ biếm họa.
Tại sân khấu chính, lần lượt năm đội múa đến từ Nhật Bản và tám đội tại Việt Nam đã trình diễn các bài múa Yosakoi truyền thống của Nhật Bản.
Các đội múa người Chăm và Khmer cũng góp phần làm sân khấu trở nên sinh động với những điệu múa truyền thống Việt Nam.
Điểm thu hút của lễ hội năm nay là tiết mục trình diễn đua xe địa hình đầy ấn tượng bởi những pha giữ thăng bằng trên mặt đất, điều khiển xe đứng trên mặt đất, vượt chướng ngại vật mô phỏng nhiều loại địa hình khác nhau.
Lễ hội Genki Nhật Bản 2012 diễn ra trong hai ngày 13 và 14.4.

Nhóm múa Yosakoi Việt Nam - Ảnh: Thiên Hương

Nhóm múa Yosakoi Nhật Bản - Ảnh: Thiên Hương

Múa Chăm - Ảnh: Thiên Hương

Múa Văn công của người Khmer - Ảnh: Thiên Hương

Họa sĩ Nhật Bản vẽ biếm họa - Ảnh: Thiên Hương

Những tác phẩm xếp giấy Origami - Ảnh: Thiên Hương

Thử sức với trò Kendama - Ảnh: Thiên Hương




Những pha trình diễn đua xe địa hình ngoạn mục - Ảnh: Diệp Đức Minh

Khách tham quan chụp ảnh lưu niệm với những cây hoa anh đào rực rỡ

Sắc màu văn hóa Nhật

Thiên Hương
 
Thế Giới tuyết ở Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến

Mô hình trò chơi tuyết duy nhất của Việt Nam. Với âm 3-5 độ, du khách phải trang bị áo gió và giày và tham gia các trò chơi duy nhất của Việt Nam như: trượt tuyết, đắp người tuyết, và đùa giỡn trong không gian của tuyết.

Bạn mơ ước 1 lần được ngắm tuyết thật. Một lần được chạm vào và nhặt lấy những bông hoa tuyết hay chơi đùa thỏa thích cùng với tuyết. Thế giới tuyết chắc chắn sẽ làm thỏa mãn những ước mơ của bạn. Những người tuyết đáng yêu, những chú chim cánh cụt ngộ nghĩnh của xứ sở Bắc Cực sẽ xuất hiện trong Thế giới tuyết và đưa bạn đến với một thế giới khác. Được thiết kế theo công nghệ nước ngoài tiên tiến nhất với nhiệt độ từ -5 độ C đến -15 độ C, cái lạnh run người buốt da khi chạm vào tuyết, trượt trên tuyết sẽ mang đến cho bạn một không gian tuyết thật tuyệt vời!















 
Dành cho ai yêu tuyết Khi tuyết rơi xuống






Người ta nói mỗi ngôi sao ứng với số mệnh của một con người. Nếu vậy ngôi sao của tôi hẳn đã sinh ra vào một ngày tuyết rơi.
Những ngày còn nhỏ… Tôi thường ước mơ được ngồi trong một căn nhà gỗ, cạnh lò sưởi cháy bừng vào một đêm mùa đông lạnh giá. Trên tay tôi vẫn cầm một câu chuyện cổ tích. Ngoài trời, sẽ có tuyết rơi nhiều, trắng xóa cả mặt đất. Cứ thế tôi ngủ lúc nào không hay.
Tôi không hiểu vì sao lại thích tuyết rơi.
Đó là màu tuyết dịu êm trong câu chuyện cảm động Cô bé bán diêm. Mà mỗi que diêm được thắp sáng lên chính là một ước mong về hạnh phúc.
Hay sắc tuyết cổ tích trong truyện về Bà chúa tuyết kiêu kỳ, xa xôi.
Tôi yêu màu trắng phủ đầy trên những con đường và cánh rừng của Bản tình ca mùa đông trong một bộ phim Hàn Quốc.
Tôi yêu những giọt tuyết đang tan chảy về những dòng sông khi xuân vừa đến trong phim xứ Nhật Bản. Sắc trắng của tuyết lẫn với màu đỏ tươi của những cánh hoa anh đào và màu trời xanh thắm lúc vừa sang xuân.
Việt Nam ta cũng có tuyết. Đó là cái tuyết hiếm hoi vào một sáng xuân cách đây đã lâu ở Sapa quanh năm bồng bềnh mây phủ. Nhưng tôi ước năm nào cũng có tuyết. Sapa chỉ có tuyết năm ấy thôi. Người người chen nhau đi xem. Giờ không còn nữa, khiến cho lòng đầy những ngẩn ngơ…
Giá như ở xứ Bắc này cũng có tuyết. Tuyết phủ trắng mái nhà, ngập đầy những con đường vào thành phố, đường ra chợ. Trẻ con đội mũ đỏ, mặc áo bông ném những viên tuyết vừa vo vội, cười đùa trước cửa nhà. Sẽ có cả người tuyết lúc nào cũng vui vẻ đứng bên cạnh cây nêu cao chót vót vào dịp Tết đến – sự pha lẫn giữa phương Tây và phương Ta. Người lớn vừa đi xa về, tuyết bám đầy vai áo. Hương tuyết ngọt mát cứ tan dần trong lòng bàn tay. Những ngày cuối tuần, hay cuối năm, tiếng chuông nhà thờ, tiếng chuông chùa rền vang trong lúc tuyết rơi. Hoa đào nở từ trong đám tuyết tinh khôi. Những cụm tuyết rơi lả tả từ những cành khẳng khiu xuống đường.
Bố tôi là người cũng rất thích tuyết rơi. Ông đi học từ Liên Xô về. Mỗi khi mùa đông đến ở quê nhà, ông lại nhớ khôn nguôi những mùa đông ở nước Nga tuổi sinh viên đầy kỉ niệm. Bố tôi nói Liên Xô lạnh hơn mình nhiều. Mùa đông những năm lạnh nhất ở nước ta có thấm thoắt là gì. Tôi vẫn thường cảm phục bố vì trong khi chị em tôi khăn ấm, áo len thì bố chỉ mặc một chiếc áo dài tay rồi chạy thể dục buổi sáng trong cái lạnh cắt da cắt thịt. Bố nói cái lạnh sẽ làm khoẻ người. Bố tôi rời Nga về Việt Nam cũng vào lúc tuyết bắt đầu rơi bên khung cửa sổ. Ông gửi lại tình yêu với tuyết trắng cho chúng tôi trong những câu chuyện về hoa tuyết. Bạn có bao giờ nhìn thấy hoa tuyết? Đó là những bông tuyết rơi từ trên trời xuống như những bông hoa hay chính là những bông hoa thật sự nở từ trong tuyết? Tôi không biết truyền thuyết về hoa tuyết. Tôi cũng chưa nhìn thấy chúng bao giờ, vì vốn dĩ nước mình vẫn không có tuyết. Miền Nam thậm chí không có cả cái lạnh của mùa đông.
Tuyết chỉ đẹp như những ngôi sao băng mà không bao giờ ta trông thấy. Để rồi ra Giêng, tuyết tan hết dần…
Ngày tháng Giêng ấy, tôi sẽ lại nằm mơ tuyết rơi.
Bạn hãy mơ về những điều kỳ lạ của cuộc sống, dù biết rằng có những ước mơ không bao giờ thành hiện thực.

(Sưu tầm)





 
Tham dự đại hội Mạc tộc ngày 20/5 tại Tp Hồ Chí Minh





















 
ĐẠI HỘI MẠC TỘC T/P HỒ CHÍ MINH LẦN THỨ NHẤT.
Ngày 20-5-2012 vừa qua, tại hội trường khách san Victory, phố Võ Văn Tần, T/P Hồ Chi Minh , đã long trọng diễn ra Đại hội Mạc tộc T/P Hồ chi Minh lần thứ nhất.



Ảnh 1: Chủ tịch đoàn Đại hội



Ảnh 2.Đoàn thư ký Đại hội




Ảnh 3. Chụp ảnh lưu niệm



Ảnh 4: Liên hoan mừng thắng lợi Đại hội

Đây là dịp con cháu họ Mạc hội họp bày tỏ niềm vui chung , ca ngợi công lao to lớn của tổ tiên từ các vị trạng nguyên triều Lý Trần, lưỡng quốc trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi; cho đến 12 vị hoàng đế, đứng đầu là Thái tổ Mạc Đăng Dung .
Đại hội rất phấn khởi được đón tiếp đại biểu nhiều họ như họ Bùi, Hồ, Tô, Lê, Nguyễn, v.v...và đại biểu nhiều hội đồng anh em: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Nam-Đà Nẵng,...
Đoàn đại biểu Hội đồng Mạc tộc Việt Nam có: GS Phan Đăng Nhật-chủ tịch, PGS.TS Phạm Quốc Toàn- Tổng thư ký, ông Phan Mạc Tuấn-trưởng ban kinh tế tài chính, ông Mạc Đăng Nớp-phó ban kinh tế, ông Phan Đăng Long-trưởng ban tuyên truyền, ông Phạm Quốc Hải-giám đốc công ty cổ phần Mạc tôc, VN .
Đại hội đã quyết định một số vấn đề quan trọng:
-.Đổi tên Ban liên lạc họ Mạc T/P Hồ Chí Minh thành Hội đồng Mạc tộc T/P Hồ Chí Minh.
-.Nhận định đánh giá thời kỳ qua, kể từ khi ông Mạc Sơn qua đời và GS Mạc Đường nhận nhiệm vụ chủ tịch Ban liên lạc, nhấn mạnh thành tích đã đoàn kết, tập hợp được một số khá đông đủ con cháu họ Mạc với nhân khẩu chừng 930 người.
- Đã biên soạn và xuất bản một số sách có giá trị như: Góp phần đổi mới quan điểm đánh giá vương triều Mạc, Sưu biên giới thiệu về họ Mạc,…
Đại hội đã đề ra sáu nhiêm vụ cho nhiệm kỳ tới, trong đó đáng chú ý là :
- Nâng cao sức mạnh của các chi họ
- Tập hợp và hoạt động tổ chức câu lạc bộ doanh nhân Mạc tộc T/P Hồ chí Minh. Liên kết với câu lạc bộ doanh nhân Mạc tộc Viêt Nam và câu lạc bộ Hải Phòng. Một hoạt động quan trọng của câu lạc bộ là xúc tiến dự án trại gà ở Bình Phước.
- ...
GS TS Mạc Đường vui mừng phát biểu: thành công của Đại hội thật to lớn, Đại hội này đã kế tiếp và phát huy Đại hội toàn quốc tháng 11 năm 2011 đem lại một bầu không khí mới cho họ Mạc, đặc biệt có ý nghĩa là đem lại sự sôi động trong lớp trung niên khoảng 30 - 40 tuổivà trên dưới dưới 20 tuổi, trên cơ sở những hiểu biết mới, đúng đắn về tổ tiên và đồng tộc.
Cả mấy trăm người suốt trong buổi sáng cho đến quá trưa ai cũng vui mừng rạng rỡ. Có nhiều điều để ngợi khen. Tuy nhiên theo tôi nghĩ, ý nghĩa to lớn nhất của Đại hội lần thứ nhất Mạc tộc T/P Hồ Chí Minh là tinh thần đoàn kết dòng họ: đoàn kết các chi họ Mạc ở T/P, đoàn kết họ Mạc ở các tỉnh thành, đoàn kết các họ khác và gắn kết Hội đồng Mạc tộc T/P với Hội đồng Mạc tộc Việt Nam. Rất mong Hội đồng Mạc tộc các tỉnh thành chưa tổ chức đại hội quán triệt đầy đủ tinh thần trên..
Tin và Ảnh của CTV Mactoc.com