• Các thành viên chú ý, NHT trở lại vẫn giữ những thông tin cũ, bao gồm username và mật khẩu. Vì vậy mong mọi người sử dụng nick name(hoặc email) và mật khẩu cũ để đăng nhập nhé. Nếu quên mật khẩu hãy vào đây Hướng dẫn lấy lại mật khẩu. Nếu cần yêu cầu trợ giúp, xin liên hệ qua facebook: Le Tuan, Trân trọng!

Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội thành phố Hà Tĩnh

#1
Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ
Thành phố Hà Tĩnh có 16 đơn vị hành chính, trong đó có 10 phường và 6 xã với tổng diện tích tự nhiên là 57 km2. Lãnh thổ nghiên cứu có tọa độ địa lý từ 18018'33'' đến 18024'8'' vĩ độ Bắc và từ 105051'50'' đến 105056'31'' kinh độ Đông. Tuy có diện tích nhỏ nhất so với các huyện thị khác trong tỉnh nhưng thành phố Hà Tĩnh đóng vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa của tỉnh với các kiến trúc đô thị đan xen với các vùng nông thôn rất đặc trưng.
Thành phố nằm ở trung tâm của tỉnh Hà Tĩnh, nằm ven quốc lộ 1A, cách Hà Nội khoảng 340 km, cách thành phố Vinh khoảng 50 km về phía Nam.
Phía Bắc giáp huyện Thạch Hà và Lộc Hà.
Phía Nam giáp huyện Cẩm Xuyên
Phía Tây giáp huyện Thạch Hà
Phía Đông giáp huyện Thạch Hà.
Vị trí địa lý của thành phố là một thế mạnh tạo cho thành phố những điều kiện thuận lợi để phát triển một nền sản xuất hàng hóa với những ngành kinh tế mũi nhọn đặc thù, tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng liên kết kinh tế giữa các huyện, thị trong tỉnh cũng như các tỉnh, thành trong cả nước.
Điều kiện tự nhiên
a. Địa chất – địa hình
* Địa chất
Theo bản đồ địa chất tỷ lệ 1 : 500.000 (1976) thì vùng nghiên cứu nằm trong phạm vi nghiên cứu của đới võng chồng Rào Tre, nơi phát triển chủ yếu các trầm tích cũ và trầm tích tuổi Mezozoi. Qua kết quả phân tích ảnh vệ tinh cho thấy rằng, trầm tích lớp phủ ở vùng nghiên cứu phân bố trên một diện tích rất hẹp và bao quanh chủ yếu bởi các sông, rạch như Cầu Cày, Rào Cái. Ở rìa phía Bắc, vùng bị án ngữ bởi các đứt gãy song song cùng phương Tây Bắc – Đông Nam, còn rìa phía Nam xuất hiện hàng loạt các đứt gãy á vĩ tuyến, làm tăng thêm sự phức tạp của cấu trúc địa chất.
Riêng khu vực Núi Nài được xếp tuổi O3S1 của hệ tầng Long Đại, bao gồm các đá phiến sét, đá phiến silic, cát kết đa khoáng, các kết dạng quaczit bị các thể xâm nhập axit xuyên cắt.
Ngoài ra ở ven biển phía Đông được phủ bởi các hệ tầng trầm tích nguồn gốc sông, biển Plestocen – Holoxen, bao gồm các lớp cát, cát sét xen kẹp các thấu kính cát chứa xác động vật và thực vật.
- Địa chất công trình: Thành phố Hà Tĩnh thuộc vùng đồng bằng ven biển miền Trung, cấu tạo địa chất khá phức tạp gồm nhiều lớp, phần lớn là cát và cát pha bùn sâu từ 5 đến 40m. Sức chịu tải chủ yếu đạt từ R=0,8kg/cm2 - 1,5 kg/cm2. Khi xây dựng các công trình lớn cần khảo sát tỉ mỉ.
- Địa chất thủy văn: Hà Tĩnh nằm trọn trong đồng bằng cửa sông lớn do nước lũ tạo thành, nguồn nước ngầm chủ yếu nằm ở vùng bồi tích phù sa sông. Qua đánh giá sơ bộ cho thấy mực nước ngầm xuất hiện trong khoảng 0,4 - 1,0m, sâu dưới 12m thường bị nhiễm mặn.
Cấu trúc địa chất có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xây dựng các công trình đô thị cũng như nước ngầm. Nước ngầm ở khu vực này tuy phong phú nhưng dễ bị nhiễm bẩn bởi cấu trúc nền móng và khả năng giữ nước của bề mặt kém.
* Địa hình
Nằm hoàn toàn trong vùng đồng bằng phía Đông của dải đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh, nhưng địa hình thành phố Hà Tĩnh không đơn giản như một số nơi khác mà bị chia xẻ sâu nhiều bởi tự nhiên và nhân tạo. Địa hình thấp dần theo hướng từ Tây sang Đông, với độ cao trung bình 4,33 m so với mực nước biển, cao độ nền biến thiên từ +0,5m đến +3,0m, do đó khả năng thoát nước của thành phố tương đối tốt. Tuy nhiên về mùa lũ thì vùng rìa phía Đông thường phải chịu ảnh hưởng của thủy triều nên hay bị ngập lụt.
Địa hình thành phố Hà Tĩnh có thể chia thành hai dạng chính như sau:
- Dạng địa hình cao: Phân bố ở phía Tây Nam và một phần ở rìa phía Bắc. Đây là dạng địa hình trước kia vốn đơn giản, nhưng theo thời gian nó bị phức tạp hóa do tác động của con người trong quá trình đô thị hóa.
- Dạng địa hình ô trũng: Chủ yếu là các hồ, ao và ruộng thấp.
Địa hình của các khu vực đã xây dựng trong nội thị có cao độ từ +2,0 đến +3,0m, các khu ruộng trũng có cao độ nền từ +1,0m đến +2,3m và khu vực dọc theo sông Rào Cái có cao độ nền từ + 0,7 đến + 1,1m.
b. Khí hậu
Tỉnh Hà Tĩnh nói chung và thành phố Hà Tĩnh nói riêng nằm trong vùng khí hậu Bắc Trung Bộ, có hai mùa rõ rệt là mùa hè từ tháng IV đến tháng X mùa này nắng nóng, khô hạn kéo dài kèm theo nhiều đợt gió Tây Nam (gió Lào) khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới 400C. Khoảng cuối tháng VII đến tháng X thường có nhiều đợt bão kèm theo mưa lớn gây ngập úng nhiều nơi, lượng mưa lớn nhất 500 mm/ngày đêm. Mùa đông từ tháng XI đến tháng III năm sau, mùa này chủ yếu có gió mùa Đông Bắc kéo theo gió lạnh và mưa phùn, nhiệt độ có thể xuống tới 70C.
* Nhiệt độ không khí:
- Nhiệt độ trung bình năm là: 23,80C.
- Nhiệt độ cao nhất trung bình năm: 27,50C.
- Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm: 21,30C.
- Nhiệt độ tối cao tuyệt đối là: 39,70C.
- Nhiệt độ thấp tuyệt đối: 70C.
* Độ ẩm không khí:
- Độ ẩm tương đối bình quân năm 86%.
- Độ ẩm tương đối bình quân tháng 85% - 93%.
* Nắng:
- Số giờ nắng trung bình trong các tháng mùa đông là: 93h.
- Số giờ nắng trung bình trong các mùa hè là: 178h.
* Lượng bốc hơi:
- Lượng bốc hơi trung bình tháng cao nhất là: 131,18mm.
- Lượng bốc hơi trung tháng thấp nhất là: 24,97mm.
- Lượng bốc hơi trung bình năm là: 66,64mm.
* Mưa: Thành phố Hà Tĩnh thuộc vùng mưa nhiều, mưa lớn.
- Lượng mưa trung bình năm là 2661mm.
- Lượng mưa tháng lớn nhất 1450mm.
- Lượng mưa ngày lớn nhất 657,2mm.
* Gió, bão: Hà Tĩnh thuộc vùng chịu ảnh hưởng của bão nhiều trong khu vực miền Trung. Bão thường xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 10. Có năm phải chịu ảnh hưởng của 3 trận bão (1971). Tốc độ gió đạt 40m/s, gió mạnh nhất thường xuất hiện theo hướng Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, bão thường kéo theo mưa lớn gây ra lụt.
- Gió: Hướng gió chủ đạo Tây Nam, Đông Bắc. Gió Tây Nam khô nóng từ tháng IV đến tháng VIII (hai tháng nóng nhất là tháng VI và tháng VIII). Gió Đông Bắc từ tháng XI đến tháng III.
c. Thủy văn
Trong phạm vi thành phố có các sông chính chảy qua sau đây:
- Sông Rào Cái: bắt nguồn từ sườn Đông của Trường Sơn Bắc, sau khi chảy qua vùng gò đồi Cẩm Xuyên được phân nhánh, một nhánh chảy về đồng bằng Cẩm Xuyên, một nhánh đổ về Thạch Hà. Đoạn chảy qua thành phố dài 9,8 km, lòng sông rộng từ 60 – 140m.
- Sông Cầu Cày: Chảy qua phần phía Bắc của thành phố, là ranh giới tự nhiên của thành phố Hà Tĩnh với huyện Lộc Hà. Sông Cầu Cày hợp với sông Rào Cái tại xã Thạch Hạ, tạo thành sông Hạ Vàng đổ ra biển Đông tại Cửa Sót.
* Chế độ thuỷ văn:
Việc tiêu thoát của thành phố Hà Tĩnh phụ thuộc vào chế độ thủy văn của sông Rào Cái. Về mùa lũ thường có sự giao lưu giữa lũ và triều gây ra ngập úng tại nội đồng trong thành phố.
* Các đặc trưng của sông Rào Cái
Chế độ dòng chảy của sông Rào Cái. Chế độ dòng chảy có hai mùa rõ rệt:
- Dòng chảy mùa cạn từ (tháng XII đến tháng VII) dòng chảy ổn định. Khi có mưa tiểu mãn dòng chảy tăng lên khá nhiều vào tháng V.
- Dòng chảy mùa lũ thường từ tháng VIII đến XI thường có biến động lớn đạt bình quân 50% tổng lưu lượng cả năm.
* Chế độ thuỷ triều:
Thành phố Hà Tĩnh nằm ở lưu vực của hai con sông là sông Rào Cái ở phía Đông Bắc và sông Cày ở phía Tây Bắc. Hai sông này hợp lưu ở phía Bắc của thành phố hợp thành sông Cửa Sót (Hạ Vàng) cách biển 8km. Các sông này chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy triều.
- Về mùa kiệt chủ yếu là dòng triều.
- Về mùa lũ giao lưu giữa triều và lũ ở mức cao nhất +2,88m (P=1%).
Chế độ thuỷ triều của vùng ven biển Hà Tĩnh thuộc chế độ nhật triều không đều. Trong tháng xuất hiện 2 lần triều cường và hai lần triều kém trung bình một chu kỳ triều là 14 - 15 ngày. Biên độ triều lớn nhất trong năm thường xuất hiện vào mùa cạn. Từ tháng V đến tháng VI. Biên độ triều trung bình tại Cửa Sót là 117cm. Trong mùa cạn ảnh hưởng của thuỷ triều vào nội địa khá xa nhiều khi vào sâu 24km. Triều vào ngược dòng chảy của sông làm cho độ nhiễm mặn của nước sông vùng này tăng lên làm ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày và nước tưới cho cây trồng.
Mặc dù thành phố có hệ thống đê phòng hộ, toàn bộ thành phố vẫn phải đối mặt với lũ lụt của sông Rào Cái với mức lũ cao nhất là 2,8m.
Lưu lượng dòng chảy chính của sông Rào Cái (đo ở thượng nguồn cách thành phố 14km) là khoảng 13,6m3/s với mức thấp nhất là 0,2m3/s và cao nhất 1,51m3/s.
Điều kiện kinh tế - xã hội
a. Dân cư và nguồn lao động
* Dân số:
Tính đến năm 2010, Thành phố Hà Tĩnh có 92.612 người. Bao gồm 10 phường và 6 xã.
Trong đó: Nội thị: 66.750 người (gồm 10 phường), ngoại thị: 25.862 người (gồm 6 xã).
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,87%.
- Tỷ lệ tăng cơ học là: 1,36%.
- Mật độ dân số: 1.625 người/km2.
b. Cơ sở hạ tầng
* Nhà ở:
Tổng quỹ nhà nội thị của khu vực thành phố Hà Tĩnh là: 10.360 ngôi nhà, diện tích xây dựng nhà ở trung bình đạt 1.964.000 m2. Diện tích sàn bình quân đạt: 20,45 m2/ người. Số lượng nhà ở kiên cố đạt tỷ lệ 63%. Chất lượng sống ở đô thị được cải thiện nhiều, bình quân đất ở đô thị từ 150- 250 m2/hộ. Tầng cao trung bình của công trình kiến trúc ở đô thị khoảng 2,2 tầng.
* Công trình công cộng:
- Giáo dục đào tạo: Hệ thống giáo dục của thành phố phát triển tương đối toàn diện. Cơ sở vật chất của hệ thống các trường đã được đầu tư cơ bản kiên cố hoá theo hướng đạt tiêu chuẩn Quốc gia. Thành phố Hà Tĩnh là một trong những đơn vị liên tục dẫn đầu về số lượng học sinh giỏi và giáo viên giỏi trong toàn Tỉnh.
Thành phố Hà Tĩnh có 1 trường Đại học (Đại học Hà Tĩnh), trường Cao đẳng Y tế , trường trung học Kinh tế Tỉnh, trường Văn hoá Nghệ thuật, trường dạy nghề kỹ thuật Việt Đức, Trường chính trị Hà Tĩnh.
Tính đến năm 2010, toàn thành phố có 17 trường tiểu học với 217 lớp học, 6.617 học sinh; 10 trường trung học cơ sở với với 153 lớp học, 5000 học sinh; có 4 trường trung học phổ thông với 106 lớp học, 4.385 học sinh; Mẫu giáo Mầm non có 18 trường, 90 lớp và 2.686 cháu. Đến nay thành phố có 3/18 trường mầm non, 13/17 trường tiểu học, 2/10 trường trung học cơ sở đạt tiêu chuẩn Quốc gia.
- Thương mại dịch vụ: Các công trình dịch vụ như: chợ, bưu điện, ngân hàng, bảo hiểm, khách sạn, nhà hàng, siêu thị cũng khá phát triển tạo ra môi trường xã hội của thành phố tương đối sôi động và có sức thu hút là một trong những yếu tố có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Y tế: Mạng lưới y tế trên địa bàn thành phố đáp ứng đủ nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân. Hiện trạng nằm trên địa bàn thành phố có: 1 Bệnh viện đa khoa Tỉnh với quy mô 500 giường với 650 cán bộ; 1 bệnh viện Lao và bệnh viện phổi với quy mô 100 giường đang được đầu tư xây dựng mới; 1 bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng với quy mô 100 giường; 1 bệnh viện y học cổ truyền đang chuẩn bị xây dựng với quy mô 130 giường; 1 bệnh viện thành phố với quy mô 50 giường; 1 trung tâm Bảo vệ Bà mẹ Trẻ em; 1 trung tâm KHHGĐ; 1 trung tâm y tế dự phòng và trạm sốt rét; 1 hội đồng giám định y khoa. Ngoài ra trên địa bàn thành phố còn có 16 cơ sở khám chữa bệnh và 15 trạm y tế xã phường với quy mô khoảng 65-70 giường.
- Công trình văn hoá: Trên địa bàn thành phố có 1 trung tâm văn hoá Tỉnh đáp ứng tốt các nhu cầu về biểu diễn, hội họp, triển lãm, hội chợ, hội thảo...
Ngoài ra còn có 1 trụ sở đoàn ca múa kịch Hà Tĩnh; 2 rạp chiếu bóng; 1 xí nghiệp in; 1 trung tâm phát hành sách; 1 thư viện Tỉnh; 1 nhà bảo tàng; và 1 trụ sở Sở Văn hóa Thông tin. Tuy nhiên các công trình này đều nằm trong tình trạng xuống cấp hoặc không đáp ứng được các nhu cầu thực tế đề ra cả về quy mô và chất lượng cơ sở vật chất của công trình.
* Cơ quan:
Toàn thành phố có khoảng 150 các cơ quan ban ngành của trung ương, Tỉnh và của thành phố đóng trên địa bàn thành phố, tập trung chủ yếu trên 2 trục đưòng: Trục Quốc lộ 1A và đường Phan Đình Phùng. Các công trình chủ yếu xây dựng 2-3 tầng. Quy mô đất đai cho nhiều công trình còn chưa đáp ứng phù hợp với nhu cầu phát triển như: thiếu không gian quảng trường, cây xanh hoặc bãi đỗ xe.
* Công trình cây xanh – Thể dục thể thao:
Hiện trạng trên địa bàn thành phố có 1 sân vận động cấp Tỉnh quy mô 2 vạn chỗ; một trung tâm thi đấu thể dục thể thao cấp Tỉnh gồm: 1 nhà thể thao tổng hợp với quy mô 2000 chỗ, 1 sân tennis, 01 bể bơi, 01 nhà tập thi đấu đa năng. Ngoài ra còn có các sân vận động của các phường xã, các sân cầu lông, sân tennis... góp phần tạo điều kiện cho nhân dân tham gia tập luyện, thi đấu thúc đẩy phong trào Thể dục Thể thao phát triển.
Về công viên cây xanh tập trung trên địa bàn thành phố chỉ có duy nhất một vườn hoa Lý Tự Trọng thuộc cấp phường và một quảng trường ở trước Uỷ ban nhân dân Tỉnh.

...TO BE CONTINUED...