• Các thành viên chú ý, NHT trở lại vẫn giữ những thông tin cũ, bao gồm username và mật khẩu. Vì vậy mong mọi người sử dụng nick name(hoặc email) và mật khẩu cũ để đăng nhập nhé. Nếu quên mật khẩu hãy vào đây Hướng dẫn lấy lại mật khẩu. Nếu cần yêu cầu trợ giúp, xin liên hệ qua facebook: Le Tuan, Trân trọng!

Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh

#1
1.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ PHẠM VI LÃNH THỔ
Huyện Can Lộc là một huyện nằm ở phía bắc tỉnh Hà Tĩnh, giới hạn toạ độ địa lý từ 18o20'20'' đến 18o32' 59'' vĩ Bắc và 105o37'43'' đến 105o49' 49'' kinh Đông.
Địa giới hành chính được xác định như sau:
Phía Bắc giáp với huyện Nghi Xuân và thị xã Hồng Lĩnh;
Phía Nam giáp huyện Thạch Hà;
Phía Tây giáp với Đức Thọ và Hương Khê;
Phía Đông giáp huyện Lộc Hà.
Diện tích tự nhiên của huyện là 302 km2, chiếm 5,04% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, xếp thứ 7 trong tổng số 12 huyện thị. Huyện có 23 đơn vị hành chính bao gồm 1 thị trấn: thị trấn Nghèn (huyện lỵ) và 22 xã: Thiên Lộc, Thuần Thiện, Kim Lộc, Vượng Lộc, Thanh Lộc, Song Lộc, Thường Nga, Trường Lộc, Tùng Lộc, Yên Lộc, Phú Lộc, Khánh Lộc, Gia Hanh, Vĩnh Lộc, Tiến Lộc, Trung Lộc, Xuân Lộc, Thượng Lộc, Quang Lộc, Đồng Lộc, Mỹ Lộc, Sơn Lộc.
Huyện lỵ của huyện Can Lộc là thị trấn Nghèn cách thành phố Hà Tĩnh 20 km, cách thị xã Hồng Lĩnh 10 km, cách thành phố Vinh (Nghệ An) 30 km. Huyện nằm ở vị trí các đầu mối giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, Quốc lộ 15, tỉnh lộ 12, tỉnh lộ 6, tỉnh lộ 7… nối liền với các huyện thị trong tỉnh, đây là điều kiện thuận lợi giúp cho giao lưu và phát triển kinh tế, văn hoá và tiêu thụ sản phẩm của toàn huyện.
1.2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
1.2.1. Địa hình
Can Lộc có địa hình lòng chảo, nghiêng từ Tây sang Đông và từ Bắc vào Nam, phía Tây và phía Bắc là dãy núi cao, kế tiếp là đồi thoải đến dải đồng bằng nhỏ hẹp. Địa hình huyện Can lộc bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi và đồi núi. Về cơ bản địa hình Can Lộc được chia thành ba kiểu đặc trưng:
- Kiểu địa hình núi thấp: Có độ cao tuyệt đối trên 250 m và độ cao tương đối trên 100 m, phân bố ở 2 xã Thiên Lộc và Thuần Thiện, là vùng phía Bắc của huyện nằm ven dải Hồng Lĩnh, có địa hình dốc, đất đai thuộc dạng đá pha cát, có khả năng sử dụng vào trồng cây công nghiệp ngắn ngày như đậu, lạc, cây hoa màu và trồng rừng.
- Kiểu địa hình đồi: Có độ cao tuyệt đối từ 10 – 250m và độ cao tương đối dưới 100m. Đây là khu vực chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng được phân thành 2 kiểu:
+ Kiểu địa hình đồi cao: Có độ cao tuyệt đối từ 10 – 250m, phân bố ở các xã Thiên Lộc, Thuần Thiện, Đồng Lộc, Thượng Lộc, Gia Hanh, Phú Lộc. Đây là vùng có độ dốc khá lớn (> 150). Đây là vùng được đánh giá có khả năng phát triển kinh tế nông - lâm kết hợp.
+ Kiểu địa hình đồi thấp: Có độ cao tuyệt đối từ 10 – 100m, phân bố ở các xã Thiên Lộc, Thuần Thiện, Sơn Lộc, Mỹ Lộc, Đồng Lộc, Thượng Lộc, Gia Hanh, Phú lộc và Thường Nga. Đây là vùng có diện tích đát chưa sử dụng lớn, là vùng có khả năng phát triển kinh tế trang trại và vườn đồi.
- Kiểu địa hình đồng bằng: Có độ cao tuyệt đối dưới 10 m, gồm 13 xã và 1 thị trấn: thị trấn Nghèn, các xã: Quang Lộc, Xuân Lộc, Trung Lộc, Khánh Lộc, Vính Lộc, Yên Lộc, Trường Lộc, Song Lộc, Kim Lộc, Thanh Lộc, Vượng Lộc, Tiến Lộc và Tùng Lộc. Đây là vùng tương đối bằng phẳng, có nhiều sông, đất đai tương đối màu mỡ, đây là vùng sản xuất lúa chính của huyện.
1.2.2. Khí hậu
Là huyện thuộc khu IV (cũ), một mặt mang những đặc điểm chung của khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa 2 miền Nam – Bắc. Mặt khác khí hậu Can Lộc mang những đặc điểm riêng của tiểu vùng và được phân thành 2 vùng rõ rệt:
- Mùa khô bắt đầu từ tháng II đến tháng VII hàng năm, đây là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam thổi mạnh dẫn đến hiện tượng bốc hơi nước lớn, gây hạn hán nghiêm trọng, đặc biệt từ tháng V đến tháng VII, nhiệt độ trung bình vào mùa này từ 31 -330C, tháng nóng nhất nhiệt độ lên đến 39,70C, độ ẩm trung bình 70%, lượng mưa chỉ chiếm 18 -22% tổng lượng mưa cả năm.
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng VIII đến tháng I năm sau, tập trung chủ yếu vào tháng IX đến tháng XI, nhiệt độ màu này xuống thấp, có khi xuống 70C. Gió mùa Đông Bắc là hướng gió chính trong mùa này, vào đầu mùa mưa thường xuất hiện bão, cuối mùa mưa thường xuất hiện sương mù, mùa này có lượng mưa lớn (2000mm) nên thường gây ngập lụt.
Một số đặc điểm thời tiết:
- Nhiệt độ: Trung bình năm là 23,50C, cao nhất là tháng VII (39,70C), thấp nhất là tháng XII (70C).
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm khoảng 2.400 mm (riêng các tháng từ VIII đến X lượng mưa khoảng 1.200 mm, chiếm 50% lượng mưa trùng bình năm). Số ngày mưa trung bình năm huyện Can Lộc khoảng 152,5 ngày.
- Nắng: Ở Can Lộc nắng có cường độ tương đối cao, trung bình các tháng mùa đông có giờ nắng từ 70-80 giờ/tháng, còn các tháng mùa hè bình quân có khoảng 180 – 190 giờ nắng. Thời gian nắng nóng bình quân 1.650 – 1.700 giờ.
- Độ ẩm không khí: Độ ẩm trung bình đạt 84,5%, tháng cao nhất đạt 92%, tháng thấp nhất là 70%.
- Bão: Trung bình mỗi năm huyện Can Lộc có 1 – 2 cơn bão đổ bộ vào, và chịu ảnh hưởng của 3 -4 cơn bão.
1.2.3. Thủy văn
Ở Can Lộc có hệ thống sông ngòi khá dày đặc, nhưng có đặc điểm chung là chiều dài ngắn, lưu vực nhỏ, các sông chảy trên địa hình tương đối bằng phẳng. Sông lớn nhất là sông Nghèn có chiều dài 50 km, diện tích lưu vực 556 km2.
Ngoài ra, Can Lộc có khá nhiều hệ thống hồ đập: Hồ Cù Lây (Thuần Thiện), Hồ Khe Lang (Thường Nga), Hồ Vực Trống (Gia Hanh, Phú Lộc), Hồ Trại Tiểu (Mỹ Lộc)… cung cấp nước tưới và sinh hoạt cho nhân dân trong vùng.
1.2.4. Thổ nhưỡng
Đất đai ở huyện Can Lộc cũng như các huyện khác ở Hà Tĩnh nhìn chung không được màu mỡ, chủ yếu là đất đồi núi. Tổng diện tích đất toàn huyện là 30.220 ha. Theo số liệu điều tra, đất Can Lộc được chia thành 3 vùng chính:
- Vùng đất địa thành: Tập trung chủ yếu ở các xã thuộc vùng Hồng Lĩnh và Trà Sơn. Ở vùng Hồng Lĩnh chủ yếu là đá sa phiến, sa thạch, ít phong hóa nên đất rời rạc, tỷ lệ SiO2 cao. Đất vùng Trà Sơn chứa nhiều phiến thạch sét nên tầng phong hóa dày và mịn, thuận lợi cho phát triển kinh tế vườn đồi, trồng cây ăn quả…
- Vùng đất bán thủy thành: Phân bố ở các vùng tiếp giáp chân núi, được hình thành bởi các sản phẩm bồi tụ từ trên núi phủ lên lớp hình thành tại chỗ và một số vùng khe suối được bồi tụ qua các trận lũ, vùng này tầng đất khá dày, có khả năng trồng cây ăn quả, trồng màu, sản xuất lúa…
- Vùng đất thủy thành: Được hình thành từ phù sa các con sông, là nhóm đất có diện tích tương đối lớn tập trung ở các vùng trung và hạ Can, ở vùng này có địa hình tương đối bằng phẳng, chất đất khá thuận lợi cho sản xuấ nông nghiệp. Đây là diện tích đất canh tác chính của huyện.
Phân tích tính chất thổ nhưỡng thì trên địa bàn huyện Can Lộc có các loại đất sau: Đất mặn ít (888,44 ha), Đất phèn hoạt động nông mặn ít (1.892,69 ha), Đất phù sa không được bồi (2.298,86 ha), Đất phù sa glây (8.449,74 ha), Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (2.192,3 ha), Đất xám trên đá mắc ma axit (505,14 ha), Đất vàng đỏ trên đá sét (6.010,11 ha), Đất vàng đỏ trên đá mắc ma axit (2.652,93 ha), Đất vàng nhạt trên đá cát (398,02 ha), Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ (603,11 ha), Đất xói mòn trơ sỏi đá (3.322,4 ha).
1.2.5. Thảm thực vật
Can Lộc có diện tích đất lâm nghiệp vào loại ít so với các huyện thị khác. Tổng diện tích rừng của huyện là 4.490,11 ha, trong đó rừng tự nhiên có 744,09 ha, tập trung chủ yếu ở các xã Đồng Lộc, Thượng Lộc, Mỹ Lộc và Yên Lộc. Diện tích rừng trồng là 3.746,02 ha. Trong tổng diện tích 4.490,11 ha rừng thì có 3.304,92 ha là rừng trồng sản xuất, số còn lại được sử dụng vào mục đích phòng hộ, tập trung chủ yếu ở các xã: Đồng Lộc, Gia Hanh, Mỹ Lộc, Phú Lộc, Quang Lộc, Sơn Lộc, Thanh Lộc, Thiên Lộc, Thuần Thiện, Thường Nga, Thượng Lộc, Tùng Lộc, Vượng Lộc, Xuân Lộc, Yên Lộc
1.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI
1.3.1. Dân cư và nguồn lao động
Theo Niên giám thống kê 2010, huyện Can Lộc có 128.884 người, với số dân thành thị là 12.886 người, số dân nông thôn là 115.998 người. Mật độ dân số là 427 người/km2.


TO BE CONTINUED...