• Các thành viên chú ý, NHT trở lại vẫn giữ những thông tin cũ, bao gồm username và mật khẩu. Vì vậy mong mọi người sử dụng nick name(hoặc email) và mật khẩu cũ để đăng nhập nhé. Nếu quên mật khẩu hãy vào đây Hướng dẫn lấy lại mật khẩu. Nếu cần yêu cầu trợ giúp, xin liên hệ qua facebook: Le Tuan, Trân trọng!

Đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh

#1
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
Vị trí địa lý
Huyện Kỳ Anh là một huyện năm ở phía Nam tỉnh Hà Tĩnh, với giới hạn toạ độ địa lý từ 17o57'10'' đến 18o10'19'' vĩ độ Bắc và 106o11' 34'' đến 106o28'33'' kinh độ Đông.
Địa giới hành chính được xác định như sau:
Phía Bắc giáp với huyện Cẩm Xuyên;
Phía Nam giáp với tỉnh Quảng Bình;
Phía Tây giáp tỉnh Quảng Bình;
Phía Đông giáp với biển Đông.
Diện tích tự nhiên của toàn huyện là 1042km2 xếp thứ 3 và chiếm 17,57% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh. Toàn huyện Kỳ Anh có 33 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn gồm: thị trấn Kỳ Anh, xã Kỳ Bắc, Kỳ Tiến, Kỳ Xuân, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Phong, Kỳ Sơn, Kỳ Tây, Kỳ Hợp, Kỳ Lâm, Kỳ Khang, Kỳ Văn, Kỳ Lạc, Kỳ Hà, Kỳ Hưng, Kỳ Hải, Kỳ Châu, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Thư, Kỳ Thọ, Kỳ Phương, Kỳ Lợi, Kỳ Liên, Kỳ Ninh, Kỳ Đồng, Kỳ Long, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Thượng, Kỳ Nam, Kỳ Trung.
Huyện Kỳ Anh nằm ở vị trí các đầu mối giao thông quan trọng như Quốc lộ 1A, tỉnh lộ Việt-Lào, tỉnh lộ 22, cảng nước sâu Vũng Áng. Đây là điều kiện thuận lợi giúp cho giao lưu và phát triển kinh tế, văn hoá và tiêu thụ sản phẩm của toàn huyện.
Địa hình
địa hình huyện Kỳ Anh tương đối phức tạp, có đầy đủ các dạng địa hình: miền núi, đồi, đồng bằng và ven biển. Kỳ Anh là một vùng đất nhỏ nằm ở phía đông dãy Trường Sơn, với phía Nam là dãy hoành sơn đâm ngang ra biển nên có đến 80% diện tích tự nhiên của lãnh thổ là đồi núi và đại hình hẹp và dốc dần từ Tây sang Đông, đồng bằng chiếm một diện tích nhỏ lại bị chia chia cắt bởi những ngọn núi nằm rải rác ra đến tận biển.
Căn cứ vào đặc điểm địa hình có thể phân huyện Kỳ Anh thành các kiểu địa hình chủ yếu sau:
Kiểu địa hình núi:
Kiểu đia hình này có thể phân thành hai loại:
+ Kiểu núi trung bình uốn nếp khối nâng lên mạnh
Núi trung bình uốn nếp khối nâng lên mạnh là kiểu địa hình tạo thành một dải hẹp nằm dọc theo ranh giới giữa tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh. Cũng như núi khác trong khu vực có được hình thành sau vận động Hexacini muộn, nhưng đến vận động Kainozoi thì được nâng lên mạnh. Các khối granit xâm nhập bóc ra với đỉnh nhọn, sườn dốc với độ dốc trên 25o và thường là những đỉnh cao nhất vùng núi U Bò với độ cao 1011,5m. các núi cát kết phiến sét hình thành mềm mại hơn, đường phân thuỷ phân có khi được phân cách rõ nét nhưng nhiều chổ lại hơi bằng hoặc lượn song, có khi thấp xuống. Như vậy, với dạng địa hình dốc thoải, thẳng góc với hướng gió mùa Đông Bắc, loại gió này khi đi ngang qua biển Đông thì đem lại mưa lớn vào mùa thu và mùa đông trên những sườn đón gió; do đó trên những sườn này quá trình xói mòn xạy ra nghiêm trọng, đất chủ yếu là trơ sỏi đá, thảm thực vật che phủ tồn tại rất khó khăn cho việc giao thông đi lại và khai thác
+ Kiểu núi thấp uốn nếp nâng lên yếu
Đây là kiểu địa hình có diện tích khá lớn của huyện, nó được hình thành sau vận động Hecxini muộn nhưng ở đới Hoành Sơn bị chìm ngập ở Mezozoi thượng, đến vận động Kainozoi thì tiếp tục được nâng lên. Nhìn chung, núi ở đây có độ cao dưới 1000m, mức độ chia cắt yếu, độ dốc của thung lũng từ 15O có giảm xuống 7. ở đây có quá trình xâm thực bóc mòn mạnh hơn là chia cắt sâu, địa hình mềm mại, ít dốc, độ cao các đỉnh núi ít chênh lệch lớn tạo thành một độ cao trung bình khoảng 400 – 500m. Với địa hình này việc gia thông đi lại cũng bị hạn chế nhưng lại thuận lợi cho sự phát triển của thực vật.
Kiểu địa hình đồi
Đây là những thung lung kiến tạo và xâm nhâp với chiều ngang tuwong đối rộng, độ cao chủ yếu dưới 30m, bao gồm các thung lũng nằm xen kẽ với các dãy núi, cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích vỡ vụn. dễ bị xâm thực được phân bỗ tập trung chủ yếu ởi xã Kỳ Lâm, Kỳ Tây, Kỳ Lạc, Kỳ Trung, Kỳ Tân, Kỳ Hoa; trong đó phổ biến là các dạng địa hình đồng băng, bãi bồi và thềm sông cổ khá phát triển trên kiểu địa hình này. Kiểu địa hình nay khá thuận lợi để phát triển nông- lâm nghiệp và đang được khai thác mạnh.
Kiểu địa hình đồng bằng và ven biển
Vùng địa hình đồng bằng Kỳ Anh nằm dọc ven biển với độ cao trung bình dưới 3m, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi phía tây, càng về phía nam càng hẹp. nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng nhất là vùng hình thành bởi phù sa các sông suối lớn nhỏ trong huyện, phần lớn là vùng phù sa do hệ thống sông quyền bồi đắp; chính vì vậy mà ở vùng này đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình và nhẹ, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như trồng lúa và các cây công nghiệp ngắn ngày.
Địa hình ven biển thường có những dãi cát dọc theo bờ biển, thỉnh thoảng có những cồn cát cao là những khu dân cư phía trong nội đồng. Bên canh việc khai thác phát triển lâm nghiệp, đặc biệt là trồng rừng phòng hộ với sự kết hợp sự xen kẽ cây lá tràm và thông nhựa
Khí hậu – Thuỷ văn
Khí hậu
Khí hậu có ảnh hưởng đến sự phân bố, cấu trúc, sinh trưởng, phát triển và năng suất của thảm thực vật. Nhóm nhân tố khí hậu bao gồm: Bức xạ mặt trời, nhiệt độ, lượng mưa, thành phần và sự chuyển động của không khí. Tất cả các yếu tố trên liên quan chặt chẽ với nhau và ảnh hưởng tổng hợp lên đời sống thảm thực vật. Là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Hà Tĩnh, Kỳ Anh có một chế độ khí hậu khá đặc biệt. Khí hậu ở đây nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa với một mùa mưa và một mùa ít mưa được phân hoá không rõ nét, trong đó mùa mưa ở đây thường đến chậm và ngắn do sự hoạt động muộn của các nhiễu động khí quyển và sự rút lui của hoàn lưu Tây Nam. Kỳ Anh thuộc khí hậu mang tính chất á nhiệt đới nhiều hơn có một mùa đông lạnh khô với ba tháng nhiệt độ dưới 180C.
a. Chế độ nhiệt
Huyện Kỳ Anh nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới Bắc Bán Cầu, có nhiệt độ trung bình năm là 240C, tổng lượng nhiệt năm khoảng 8.000 - 8.5000C, biên độ nhiệt giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất trong năm từ 10 - 120C. Vào mùa hè, do chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng hoạt động mạnh nên khu vực này có nền nhiệt rất cao, nhiệt độ tháng nóng nhất vào tháng VII khoảng 300C, có những ngày nhiệt độ lên đến 39 - 400C. Trong khi đó, vào mùa đông do chịu ảnh hưởng của những đợt gió mùa Đông Bắc với cường độ mạnh làm cho nền nhiệt ở Kỳ Anh hạ thấp trung bình khoảng 17,50C. Bên cạnh đó, ở những khu vực miền núi thì nhiệt độ luôn thấp hơn vùng đồng bằng do ảnh hưởng của sự chênh cao địa hình, lên cao 100 m thì nhiệt độ giảm đi 0,60C; điều này đã tạo nên sự phân hoá về lớp phủ thực vật rất rõ nét theo độ cao của địa hình.
Như vậy, với điều kiện nhiệt độ như trên đã cung cấp một lượng nhiệt rất lớn, tạo điều kiện cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của thực vật. Đặc biệt, với biên độ nhiệt năm lớn và nằm trong khoảng thích nghi của thực vật đã góp phần tạo nên sự phong phú trong về thành phần loài trong hệ thảm thực vật của địa phương.
b. Chế độ khô ẩm
Nước là nhân tố sinh thái giữ vai trò quan trọng trong đời sống của thực vật. Cùng với chế độ nhiệt, nước là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến bộ mặt phân bố thực bì trên trái đất. Theo Thái Văn Trừng, chế độ khô ẩm là nhân tố quyết định việc hình thành các thảm thực vật nguyên sinh khí hậu. Nước ảnh hưởng đến thảm thực vật ở ba dạng: Mưa, độ ẩm không khí và độ ẩm đất.[5]
Lượng mưa:
Lượng mưa và phân bố lượng mưa trong năm có ảnh hưởng trực tiếp đến thời kỳ sinh trưởng của thực vật. Thông thường mùa sinh trưởng của thực vật trong năm trùng với mùa mưa. Do chịu ảnh hưởng của địa hình, phía Tây và phía Nam là đồi núi hướng mặt ra biển Đông tạo thành những tấm bình phong đón những cơn gió thổi từ biển vào nên Kỳ Anh là một trong những huyện có lượng mưa nhiều so với các huyện khác trong tỉnh. Trừ một phần ở phía Bắc thì còn lại các vùng còn lại thì lượng mưa bình quân hàng năm đều trên 2.000mm, cá biệt có một số nơi trên 3.000mm. Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm và tập trung vào mùa hạ và mùa thu. Còn những tháng mùa đông thì lượng mưa chỉ đạt khoảng 26% lượng mưa của cả năm mặc dầu thời gian mưa có thể kéo dài nhưng vào cuối đông chủ yếu là mưa phùn. Những tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng IX, X, XI; những tháng có lượng mưa thấp nhất vào tháng II, III, IV nhưng vẫn chưa xuống dưới mức tháng khô bởi lượng mưa trung bình tháng luôn lớn hơn hai lần nhiệt độ trung bình tháng.
Số ngày mưa trung bình năm ở Kỳ Anh cũng khá cao, phổ biến từ 150 - 160 ngày/năm. Nhìn chung, chế độ mưa khu vực này rất thất thường, do ảnh hưởng của bão và mưa nguồn, lượng mưa hằng năm cũng như hàng tháng có thể khác nhau từ năm này sang năm khác.
- Độ ẩm
Hơi nước trong không khí phụ thuộc vào đặc điểm của khí hậu và cũng là nguồn cung cấp độ ẩm cho thực vật. Độ ẩm không khí trung bình hằng năm ở Kỳ Anh khá cao, trung bình khoảng 83 - 84%, vào những tháng khô hạn nhất của mùa hè độ ẩm trung bình khoảng 68%. Vào mùa đông, độ ẩm không khí thường rất cao, đặc biệt vào những tháng cuối đông, độ ẩm trung bình của không khí luôn trên 90% do hoạt động của các khối khí cực đới tràng về mang theo hơi ẩm khi qua biển Đông gây ra mưa phùn. Thời kỳ có độ ẩm không khí thấp nhất là vào các tháng VI, VII, đây là thời kỳ hoạt động mạnh mẽ của gió Tây khô nóng ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng của thực vật, cây cối khô héo. Tuy nhiên, vào mùa hè thường có những cơn mưa dông vào chiều tối đã góp phần hạ thấp bớt nền nhiệt trong ngày và cũng cung cấp lượng ẩm trong không khí.
- Lượng bốc hơi nước:
Vào những tháng mùa đông, lượng bốc hơi tại Kỳ Anh rất thấp do nhiệt độ không khí thấp, độ ẩm lại cao, áp lực không khí lớn nên lượng bớc hơi chỉ bằng 1/5 đến 1/2 lượng mưa. Đặc biệt vào mùa hạ, do nhiệt độ không khí cao, độ ẩm thấp, gió lớn, áp lực không khí giảm nên cường độ bốc hơi lớn hơn nhiều, vào tháng VI, VII lượng bốc hơi có thể gấp 3 - 4 lần năm tháng mùa lạnh. Ở khu vực ven biển, có những tháng lượng bốc hơi nhiều hơn lượng mưa.
Nhìn chung, trong toàn mùa mưa, lượng mưa vẫn lớn gấp ba lần lượng bốc hơi, điều này rất có ý nghĩa đối với thực vật vì nền nhiệt độ và độ ẩm là một trong những động lực thúc đẩy sự tăng trưởng năng suất sinh học.
Như đã nói, nhân tố vị trí địa lý và địa hình đã góp phần hình thành nên một kiểu khí hậu khá đặc biệt của lãnh thổ Kỳ Anh, đó là kiểu khí hậu mang tính chất á nhiệt đới mưa mùa ẩm hơn là khí hậu nhiệt đới điển hình. Với kiểu sinh khí hậu này đã hình thành trên đất địa đới kiểu rừng kín thường xanh với những loài đặc trưng cho cho khu hệ Hoa Nam - Bắc Việt Nam, xen lẫn với một số ngành Hạt trần từ khu vực lạnh Hymalaya di cư tới.
c. Chế độ gió
Gió là nhân tố làm thay đổi các nhân tố khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm, thành phần không khí, thông qua đó ảnh hưởng đến các quá trình hô hấp, thoác hơi nước, hấp thụ nước và các chất dinh dưỡng khoáng của thực vật cũng như trong đất. Huyện Kỳ Anh nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa nhưng tính chất phân mùa không rõ rệt như khu vực Bắc Trung Bộ hay Bắc Bộ. Hướng gió là một yếu tố bị địa hình chi phối sâu sắc nhất, trên căn bản khí hậu Kỳ Anh mỗi năm có hai mùa gió chủ yếu, là gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa đông (kéo dài từ tháng X đến tháng III năm sau) và gió mùa Tây Nam thổi vào mùa hè (từ tháng V đến tháng IX hằng năm).
Thời gian thịnh hành gió mùa mùa đông ở Hà Tĩnh nói chung và Kỳ Anh nói riêng thường muộn hơn ở Bắc Bộ, song các đợt gió mùa Đông Bắc đều mạnh và thường ảnh hưởng đến Kỳ Anh. Trong thời kỳ tháng XII, I, II, trên địa bàn Kỳ Anh bị chi phối bởi hướng gió Đông Bắc tương đối đồng nhất. Thời kỳ cuối mùa đông, do sự di chuyển lệch về phía Đông của áp cao lục địa và quá trình biến tính ẩm qua vùng biển, nên hoạt động của gió mùa Đông Bắc cũng biến tính dần. Thời gian này khối khí lạnh di chuyển chậm hơn và biến tính nhanh hơn, hướng gió dịch chuyển dần từ Đông Bắc sang hướng Đông.
Gió mùa Tây Nam thường phát triển mạnh vào thời kỳ giữa hè, đây là loại gió khô nóng, không mưa, kèm theo dông vào chiều tối. Tháng IV là tháng chuyển tiếp từ gió mùa Đông Bắc sang Tây Nam.
Nhìn chung, tốc độ gió ở Kỳ Anh thuộc loại lớn nhất trong tỉnh Hà Tĩnh, chính vì vậy nó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng truyền phấn, phát tán hạt giống, mở rộng phạm vi phân bố của cây rừng và hệ sinh thái rừng. Đại đa số cây gỗ đặc trưng cho hệ sinh thái rừng thứ sinh rất thích nghi với sự phát tán bằng gió. Ở những vùng núi cao, do tốc độ gió khá mạnh nên phần lớn thực vật có bộ rễ vững chắc, cây thấp, độ thon lớn. Ngoài ra, gió quá mạnh còn cuốn đi những chất màu và cuốn cát bụi khiến cho đất trở nên cằn cỗi, ảnh hưởng đến năng suất thực vật và đời sống nhân dân.
Các yếu tố khí hậu đặc trưng khác:
- Ở Kỳ Anh, sương mù chủ yếu xảy ra trong mùa đông và những tháng chuyển tiếp, thường 5 - 6 ngày có sương mù, ở khu vực miền núi thường nhiều hơn, phổ biến nhất là loại sương mù địa hình xuất hiện từng đám mà không thành từng lớp dày đặc.
- Số giờ nắng ở Kỳ Anh khá cao, bình quân mùa đông có 70 - 80 giờ, ở các tháng mùa hè là 180 - 190 giờ; trung bình năm có 1.500 - 1700 giờ nắng, nhưng do phân bố không đều nên vào mùa đông thực vật thường thiếu ánh sáng, trong khi mùa hè thì lại quá dư thừa. Mùa đông nắng ít gay gắt rất thuận lợi cho thực vật, nhưng mùa hè nắng thường quá gay gắt ảnh hưởng xấu đến thực vật nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng.
Kỳ Anh cũng là một trong những huyện của Hà Tĩnh cũng chịu ảnh hưởng của bão, trung bình mỗi năm có từ 1 đến 1,6 cơn bão. Thông thường bão xuất hiện từ tháng IX đến tháng XI. Do ảnh hưởng của bão thường gây mưa lớn đến 100 - 200mm/cơn bão, có nơi 400 - 500mm/cơn bão nên dễ gây lũ lụt lớn, làm cho những cây to bị bật gốc, gẫy đổ.
- Gió Tây khô nóng là một loại hình đặc biệt ở Kỳ Anh nói riêng và Khu IV nói chung. Nó thường chỉ xuất hiện thành từng đợt, nhiệt độ cao nhất lớn hơn 350C, độ ẩm thấp nhất dưới 55%. Bình quân số ngày gió Tây khô nóng ở khu vực này là 30 - 35 ngày/năm, thường bắt đầu vào tháng III và kết thúc vào tháng IX, cao điểm là tháng VII. Chính loại gió này đã gây hậu quả xấu đến thực vật, cây cối khô héo giảm năng suất, trong đất tích luỹ nhiều sắt nhôm gây thoái hoá đất.
Nhìn chung, thuận lợi lớn nhất của Kỳ Anh là ánh sáng dồi dào, tổng tích ôn cao, lượng mưa phong phú. Đây là động lực chính cho thực vật sinh trưởng, phát triển thuận lợi cho sinh khối lớn. Tuy nhiên, lượng mưa lớn lại tập trung chủ yếu vào một mùa đã làm cho đất đai Kỳ Anh vốn nghèo dinh dưỡng lại bị rửa trôi xói mòn làm giảm năng suất sinh học của thực vật.
Thuỷ văn
Là một huyện có đồi núi chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ, địa hình dốc nghiêng ra biển nên sông ngòi có đặc điểm là ngắn, lưu vực nhỏ, dốc và đều bắt nguồn từ những đỉnh núi cao nên tốc độ dòng chảy lớn nhất là về mùa mưa lũ; và đặc biệt mạng lưới sông ngòi ở đây khá dày đặc, có độ uốn khúc lớn.
Mùa lũ nước chảy dồn ứ từ các sườn dốc xuống phía các thung lũng hẹp, nước sông lớn lên rất nhanh gây lũ lớn, ngược lại vào mùa ít mưa nước sông xuống thấp, dòng chảy trong các tháng kiệt rất nhỏ. Sự phân bố dòng chảy đối với các sông suối ở Kỳ Anh theo mùa rõ rệt, hầu hết các sông chịu ảnh hưởng của mưa lũ ở thượng nguồn, ở khu vực hạ lưu do chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ triều nên thường bị nhiễm mặn.
Nhìn chung nguồn nước ngầm ở đây khá phong phú vì nền địa chất bên dưới chủ yếu từ các đá phiến sét nên khả năng chứa và giữ nước tốt. Sự phong phú về nguồn nước mặt và nước ngầm đã cung cấp một lượng nước cần thiết cho thực vật vào mùa khô.
Các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất
Kỳ Anh là huyện phong phú về tài nguyên đất. Ở đây, gồm có 8 nhóm đất chính:
Nhóm đất cát
Nhóm này có diện tích 7.040,24 ha, chiếm 6,67% diện tích toàn huyện bao gồm hai đơn vi đất đai là đất cồn cát và đất cát biển. trong đố đất cát biển là chủ yếu với diện tích 6.072,8 ha, thành phần cơ giới thô, dinh dưỡng thấp, được hình thành nhờ quá trình bồi tụ cảu trầm tích biển; còn đât cồn cát chỉ có 967,37 ha với thành phần cơ giới nhẹ, có phản ứng chua, nghèo chất dinh dưỡng
Nhóm đất mặn
Có diện tích 1.586 ha, chiếm 1,5% diện tích toàn huyện, phân bố rãi rác ven theo cửa sông của các xã Kỳ Long, Kỳ Phú, Kỳ Phương, Kỳ Liên, Kỳ Hà, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Thọ. Đất bị nhiểm mặn do ảnh hưởng của nước biển xâm nhập và được tích lũy trong đất.
Nhóm đất phèn mặn
Ở Kỳ Anh, đât phèn mặn không điển hình như ở đồng bằng sông Cửu Long hoặc đồng bằng Bắc Bộ mà ở đây chỉ xuất hiện đất phèn ít và trung bình, nhưng thường đi đôi với đất mặn ít, hình thành nên đất phèn trung bình ít. Nhóm đất này có diện tích 3.512,44 ha, chiếm 3,32% diện tích toàn huyện, phân bố tập trung ở các dãi phù sa ven biển có địa hình tương đối thấp, đặc trưng bởi có sự tích lũy một tầng tích tụ xác chất hữu cơ trong đất.
Nhóm đất phù sa
Có diện tích 8.268,62 ha, chiếm 7,83% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở địa hình đồng bằng, là sản phẩm phù sa cổ của song suối chính như Sông Rào Cái, sông Rác. Nhóm đất này là có đặc điểm là khá bằng phẳng, ở thượng nguồn có thành phần cơ giới nhẹ, được sử dụng để trồng lúa và trồng màu. đất phù sa ngoài suối ở khu vực có địa hình không bằng phẳng, độ dốc lớn thường có lẫn sỏi đá và các sản phẩm hữu cơ khác.
Nhóm đất bạc màu
Có diện tích 3.589,10 ha, chiếm 3,39% diện tích toàn huyện, phân bố rãi rác ven chân đồi, có địa hình lượn song nhẹ, thoát nước nhanh, tập trung nhiều ở các xã Kỳ Bắc, Kỳ Khang, Kỳ Lợi, Kỳ Ninh, Kỳ Phú, Kỳ Tân, Kỳ Thọ, Kỳ Tiến, Kỳ Trinh, Kỳ Văn, Kỳ Xuân và Kỳ Phong. Phát triển trên đá macma axit, có thành phần cơ giới nhẹ, đất mất kết cấu , chặt bí, có phản ứng chua.
Nhóm đất đỏ vàng
Có diện tích lớn nhất 59.971,48 ha chiếm 58,79% diện tích toàn huyện. Nhóm đất này gồm có 5 loại chính:
Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét, chiếm 32,85% diện tích toàn huyện, phân bố ở các xã Kỳ Giang, Kỳ Hoà, Kỳ Lâm, Kỳ Hưng, Kỳ Lacj, Kỳ Tây, Kỳ Thượng, Kỳ Trinh, Kỳ Vân, Kỳ Phong. Đất này hình thành trên đá phiến sét, địa hình thấp có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến sét, có mà đỏ vàng điển hình.
Đất đỏ vàng trên đá macma axit , chiếm 18,86% diện tích toàn huyện, phân bố ở các xã Kỳ Đồng, Kỳ Giang, Kỳ Hợp, Kỳ Hưng, Kỳ Hoà, Kỳ Khang, Kỳ Lạc, Kỳ Lợi, Kỳ Liên, Kỳ Long, Kỳ Nam, Kỳ Phương, Kỳ Tây…Đá mẹ chủ yếu hình thành trên loại đất này là đá granit nên khi phong hoá cho ra tầng đất trung bình màu vàng đỏ chủ đạo.
Đất vàng nhạt trên đá cát, chiếm 2,49% diện tích toàn huyện, tập trung phân bố ở vùng núi các xã Kỳ Hưng, Kỳ Hoà, Kỳ Tây, Kỳ Thịnh, Kỳ Trinh, Kỳ Tân và thị trấn Kỳ Anh. Đất hình thành trên đá cát, có nguồn gốc trầm tích, khi phong hoá cho loại đất có thành phần cơ giới nhẹ, khả năng thấm thoát nước nhanh, tầng đất thường mỏng hoặc trung bình, thành phân dinh dưỡng thấp.
Đất nâu vàng trên phù sa cổ, chiếm 2,21% diện tích toàn huyện, phân bố ở một số xã như Kỳ Liên, Kỳ Long, Kỳ Phương, Kỳ Thinh, Kỳ Trinh. Đất phát triển trên nền địa hình lượn song, độ dốc 3-150, có màu nâu vàng điển hình, thành phần cơ giới trung bình hoặc nhẹ.
Đất đỏ vàng chiếm 0,37% diện tích toàn huyện, phân bố ở các xã như Kỳ Hoa, Kỳ Tân, Kỳ Tây, Kỳ Thượng. Đất hình thành có thành phần cơ giới thịt trung đến sét.
Nhóm đất dốc tụ
Có diện tích 113,98 ha, chiếm 0,11% diện tích toàn huyện, phân bố tập trung ở các xã Kỳ Hoà, Kỳ Giang và Kỳ Trinh tại những vùng địa hình thung lũng xen giữa các dãy núi. đất được hình thành do quá trình dốc tụ các sản phẩm từ đồi núi xuống, quá trình bồi lắng không liên tục nên thường xen lẫn các sản phẩm phụ khác.
Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá
Có diện tích 6.145,38 ha, chiếm 5,82% diện tích toàn huyện, phân bố rãi rác trên các đồi núi ở các xã như Kỳ Thọ, Kỳ Đồng, Kỳ Bắc, Kỳ Giang, Kỳ Hoà, Kỳ Khang, Kỳ Lợi, Kỳ Nam, Kỳ Ninh, Kỳ Phú, Kỳ Thượng, Kỳ Tân, Kỳ Thịnh, Kỳ Tiến, Kỳ Trinh, Kỳ Xuân và Kỳ Phong. Do quá trình xói mòn và rữa trôi mạnh nên có tầng đất mõng dưới 10cm, có nhiều đá lộ đầu, dinh dưỡng rất thấp, đất có phản ứng chua mạnh
Tài nguyên rừng
Theo số liệu thống kê chính thức năm 2001, Kỳ Anh có 20.802,98 ha đất có rừng, chiếm 19,65% diện tích tự nhiên của huyện. Trong đó gồm 13.355,19 ha rừng tự nhiên, phân bố ở vùng cao, rừng đặc dụng có 3.015,10 ha, rừng phòng hộ có 10.003,39 ha, rừng sản xuất có 336,70 ha, độ che phủ đạt 36%, rừng trồng có 7.445,79 ha chiếm 7,03% diện tích tự nhiên. Đến năm 2008, diện tích đất rừng tăng lên 54.833,32 ha nhờ công tác trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc nhưng chủ yếu là rừng có trữ lượng thấp.[11,13]
Thảm thực vật rừng Kỳ Anh rất đa dạng, có đến 86 họ và 500 loài cây gỗ. Trong đó có nhiều loại gỗ quý như Táu mọc thành những quần thụ gần như thuần loại vào kỷ Đệ Tam. Biến chủng Táu mật (Táu mặt quỷ), biến chủng Táu muối và Táu mật mọc ở độ cao từ 200m trở lên và tập trung nhiều ở đai 250 - 500m và mất đi ở độ cao 700m (tài liệu của tác giả Thái Văn Trừng và Viện điều tra). Ngoài ra có nhiều loài cây thuộc họ Re, Sến, Đinh
Đặc biệt có một phần diện tích thuộc khu bảo tồn hồ Kẻ Gỗ, theo số liệu điều tra có hơn 414 loài thực vật, trong đó có nhiều loài được ghi vào sách đỏ của Việt Nam. Đây là những khu rừng nguyên sinh quý hiếm còn tồn tại ở Việt Nam có giá trị kinh tế, khoa học.
Kỳ Anh có hệ sinh thái rừng ngập mặn rất phong phú, tập trung phần lớn ở khu vực các cửa sông lớn trên địa bàn các xã Kỳ Ninh, Kỳ Phương, Kỳ Hà, Kỳ Hải, Kỳ Phú Nhưng đến nay ngày càng bị thu hẹp dần do phong trào phá rừng ngập mặn để nuôi tôm xuất khẩu đang lên mạnh.
ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI
Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh có địa hình phức tạp, khí hậu thất thường, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn… Đó là những khó khăn mà Kỳ Anh phải đương đầu trong xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội
Xuất phát từ điều kiện cụ thể, đại hội Đảng bộ huyện Kỳ Anh đã xác định quan trọng nhất là lãnh đạo phát triển kinh tế thoát khỏi huyện nghèo. Một số giải pháp thực hiện đã được đề ra phù hợp với thế mạnh và tình hình thực tiễn tại địa phương. Từ định hướng đó, ngay sau đại hội, huyện ủy đã tập trung chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể phối hợp chặt chẽ triển khai học tập thực hiện Nghị quyết đại hội với tinh thần: Làm cho cán bộ, Đảng viên, quần chúng nắm vững nội dung cơ bản Nghị quyết của Đảng bộ huyện, nhất là các khâu đột phá và những giải pháp thực hiện. Đồng thời huyện ủy ban hành kịp thời các Nghị quyết chuyên đề về sản xuất đông xuân, sản xuất hè thu và những Nghị quyết thực hiện chuyển đổi cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp, bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi đem lại sản lượng và giá trị kinh tế cao. Đặc biệt là chính sách mời gọi đầu tư, xây dựng các dự án tiềm năng, đem lại hiệu quả kinh tế cao trong tương lai…Nhờ có hướng đi và Nghị quyết cụ thể, phù hợp cho nên từ đại hội đến nay tốc độ tăng trưởng kinh tế của Kỳ Anh, thu nhập bình quân trên đầu người năm sau cao hơn năm trước.
Chỉ tính trong năm qua, tổng sản lượng đạt 54.58 tấn; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực: Nông - Lâm - Ngư nghiệp chiếm 27,87%, Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chiếm 32,39%, Thương mại- Dịch vụ chiếm 39,74%. Một số dự án đầu tư hạ tầng cơ sở để phát triển kinh tế gắn với quốc phòng được đầu tư xây dựng như: Đường kinh tế quốc phòng Tây - Bắc, đường Kỳ Lâm - Kỳ Lạc, đường cứu hộ Kim Sơn, đê biển Kỳ Ninh, Bệnh viên đa khoa huyện… Những kết quả đạt được trên lĩnh vực kinh tế: sản xuất nông lâm ngư nghiệp tiếp tục giữ vững ổn định, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, giá trị đạt 647,82 tỷ đồng, tăng 2,12% so với năm trước. Trong đó nông nghiệp đạt 477 tỷ đồng, tăng 2,88%, thủy sản đạt 142.0 tỷ đồng tăng 18,9%, riêng lâm nghiệp đạt 28,720 tỷ đồng, giảm 43,9% so với năm trước. Sản xuất Công nghiệp - Tiểu thủ Công nghiệp có bước phát triển khá, lĩnh vưc Thương mại, Dịch vụ đáp ứng tốt hơn nhu cầu về trao đổi hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm cho người sản xuất. Tích cực chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết 04-NQ/HU ngày 21/7/2008 của ban chấp hành.
Đảng bộ huyện về phát triển Công nghiêp - Tiểu thủ Công nghiệp xuống tận các xã, thị trấn. Nhờ vậy tổng giá trị sản xuất Công nghiệp- Tiểu thủ Công nghiệp đạt 636,756 tỷ đồng, trong đó Công nghiệp ngoài quốc doanh đạt 80,254 tỷ đồng, tăng 14,82% so với cùng kỳ năm ngoái. Xuất khẩu thủy sản đạt giá trị 3,6 triệu USD. Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ xã hội đạt 315,166 tỷ đồng, tăng 14,88% so với cùng kỳ năm trước. Các kĩnh vực Khoa học công nghệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng và dịch vụ Bưu chính viễn thông tiếp tục được mở rộng và hoạt động có hiệu quả, mật độ máy điện thoại cố định 6 máy/ 100 người dân
Dân số
Dân số của huyện Kỳ Anh là 173316 đứng đầu tỉnh. Dân số tăng nhanh, dẫn đến diện tích đầu người giảm là xu thế chung của mỗi tỉnh, mỗi quốc gia, lãnh thổ. Trong khi nhu cầu đất đai cho phát triển các ngành ngày càng tăng, đặc biệt là nhu cầu đất đai cho đô thị hoá, khu công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng đã gây áp lực lớn đối với quỹ đất của huyện.
Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên năm 1991 là 2,41% xuống 1,14% trong năm 2000, đến năm 2008 vẫn trên 1%, tuy nhiên vẫn còn ở mức tương đối cao. Do dân số tăng nhanh đã gây áp lực đối với sử dụng đất. Theo số liệu thống kê đến 31 - 12 - 2007, dân số trên địa bàn huyện là 172.270 người, mật độ dân số là 163 người/km2. Bình quận diện tích trên đầu người giảm (0,64ha/người năm 2001, 0,61ha/người năm 2008). Còn theo thống kê năm 2010 thì dân số của toàn huyện là 173316 đông nhất tỉnh, mật độ dân số là 166 nguời/ km2 đứng thứ 8 trong toàn tỉnh. Trong nhưng năm gần đây thì tỉnh vẫn chú trọng vào công cuộc kế hoạch hoá gia đình để giảm thiểu sự gia tăng dân số tự nhiên xuống mức thấp nhất.